Phóng viên: Thưa Giáo sư, từng là ‘kỳ tích đại thủy nông’ bảo đảm sinh kế cho hàng triệu người, nhưng sau gần 70 năm, hệ thống Bắc Hưng Hải lại rơi vào tình trạng báo động đỏ. Vậy đâu là những nút thắt cốt lõi khiến ‘mạch sống’ này bị suy kiệt dưới áp lực đô thị hóa?
GS. TS Trần Đức Hạ: Thực trạng hiện nay thực sự rất đáng báo động. Hệ thống này vốn là "phép màu" đảm bảo sinh kế cho hơn 3,3 triệu dân, biến những vùng đất bấp bênh thành vựa lúa 2–3 vụ. Nhưng trong suốt nhiều năm qua, hàng trăm nghìn mét khối nước thải sinh hoạt, công nghiệp và làng nghề của 4 tỉnh, thành phố đổ thẳng vào lòng sông mà không qua xử lý khiến hệ thống vốn có chức năng tự làm sạch nay đã hoàn toàn quá tải. Thực tế nhiều sông mương trong hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải không còn là nguồn tiếp nhận nước thải mà là nguồn thải vì nguồn cấp nước sạch (sinh thủy tự nhiên của nó) không còn, khi các trạm bơm tưới đầu mối không còn hoạt động.
Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu khiến mực nước sông Hồng xuống thấp, cống Xuân Quan chỉ còn hoạt động 20% công suất. Cùng lúc đó, xâm nhập mặn từ phía sông Thái Bình và sông Luộc có thời điểm lên tới 11‰, khiến việc lấy nước ngọt trở nên bất khả thi. Trận bão Yagi (2024) vừa qua như một hồi chuông cảnh báo sau cùng, khi hàng loạt trạm bơm phải tê liệt vì nước sông dâng quá cao, gây ngập úng diện rộng và bộc lộ sự lạc hậu của hệ thống vận hành thủ công đã cũ kỹ.
Phóng viên: Trước một Bắc Hưng Hải đang cận kề giới hạn sinh tồn, sự ra đời của Đề án 4160 vào ngày 8/10/2025 được ví như một "cuộc đại phẫu" trị giá 38.500 tỷ đồng. Theo Giáo sư, tầm nhìn về một "Hệ sinh thái thủy lợi" đa mục tiêu trong đề án này liệu có đủ sức tháo gỡ những nút thắt lịch sử để hồi sinh mạch sống cho cả vùng đồng bằng?
GS. TS Trần Đức Hạ: Đây là một chương trình tương đối tổng thể và bền vững cho mục tiêu chính là: phục hồi chất lượng nguồn nước với việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động xả thải và xử lý triệt để; và đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình phù hợp với từng địa phương. Có thể nói, đây là chiến dịch giải cứu quy mô nhất trong lịch sử hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Chương trình này đã tiếp cận tư duy quản trị hiện đại: không chỉ tưới tiêu thuần túy mà hướng tới một "hệ sinh thái thủy lợi" đa mục tiêu, kết hợp cả môi trường, đô thị và kinh tế nước. Mục tiêu xử lý hơn 538.000 m³/ngày đêm nước thải và hiện đại hóa bằng các trạm bơm thông minh là hướng đi rất đúng đắn. Tôi cho rằng, đây là một lộ trình bài bản để hồi sinh dòng chảy môi trường cho các dòng sông của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải.
Phóng viên: Việc áp dụng QCVN 08:2023/BTNMT – Quy chuẩn dành cho nguồn nước mặt – để kiểm soát nước thải sau xử lý trong Đề án 4160 đang bị cho là chưa phù hợp về mặt kỹ thuật. Theo Giáo sư, bất cập cốt lõi ở đâu và cần điều chỉnh thế nào để vừa đảm bảo mục tiêu môi trường, vừa tránh gây lãng phí nguồn lực đầu tư?
GS. TS Trần Đức Hạ: Đây là vấn đề then chốt. Việc áp dụng QCVN 08:2023/BTNMT (quy chuẩn nước mặt) làm yêu cầu bắt buộc cho nước thải sau xử lý là chưa tương thích. Quy chuẩn này được xây dựng cho nguồn tiếp nhận, không phải cho nguồn thải nhưng lại đang áp dụng cho nguồn thải.
Sự cứng nhắc này tạo ra xung đột với các quy chuẩn nguồn thải hiện hành như QCVN 14:2025/BTNMT và QCVN 40:2025/BTNMT gây khó khăn khi kiểm soát các chỉ tiêu Nitơ, Phốt pho, không khả thi về mặt kỹ thuật và đồng thời và gây lãng phí nguồn nước bổ cập. Với quy định này, mặc dù nước thải sau xử lý đạt được cột A – mức cao nhất đối với nguồn thải, có thể bổ cập cho nước sông nhưng lại khó có thể bổ cập được; mà phải đầu tư lớn để lấy nguồn nước bổ cập khác.
Thay vì áp đặt cứng nhắc, chúng ta cần chuyển sang cách tiếp cận quản lý theo sức chịu tải của nguồn tiếp nhận có tính đến việc tăng cường quá trình tự làm sạch nguồn nước, để quy định nước thải đạt cột A của các quy chuẩn nguồn thải, vừa đảm bảo mục tiêu chất lượng nước hệ thống sông Bắc Hưng Hải, vừa tối ưu hóa hiệu quả vận hành và tái sử dụng tài nguyên nước.
Phóng viên: Xin cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện này!
“Chúng ta phải nhớ rằng, Bắc Hưng Hải không chỉ là một công trình thủy lợi mà còn là di sản, là mạch sống gắn liền với ký ức và cả tương lai của hàng triệu con người. Nếu chúng ta làm đúng và làm quyết liệt, Bắc Hưng Hải chắc chắn sẽ trở thành hình mẫu quốc gia về quản lý lưu vực sông và phát triển bền vững trong kỷ nguyên xanh”, GS. TS Trần Đức Hạ