Quy hoạch điện VIII điều chỉnh: Nhiều dự án ì ạch, nguy cơ lỡ hẹn

Gần một năm sau khi Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được phê duyệt, nhiều dự án nguồn điện lớn được kỳ vọng đưa vào vận hành trong giai đoạn 2026-2030 nhưng đến nay vẫn ì ạch tiến độ, đứng trước nguy cơ lỡ hẹn. Trong khi đó, áp lực bảo đảm cung ứng điện, đặc biệt tại miền Bắc ngày càng rõ nét.

Nhiều dự án, nguồn điện chậm tiến độ

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được phê duyệt vào tháng 4/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất điện của hệ thống điện Việt Nam đạt khoảng 183.000-236.000 MW, gấp 2-3 lần so với hiện tại.

Theo Cục Điện lực - Bộ Công Thương, thời gian qua, Bộ Công Thương đã liên tục chỉ đạo và tổ chức các đoàn công tác làm việc với hàng loạt địa phương, từ Khánh Hòa, Gia Lai đến Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Nai… để kiểm tra tiến độ triển khai. Tuy nhiên, tính đến nay nhiều dự án vẫn chậm tiến độ gây ảnh hưởng đến cung ứng điện trong giai đoạn tới...

Với điện khí, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu tổng công suất lên tới 30.424 MW, trong đó riêng dự án điện LNG (dự án điện chạy bằng LNG) chiếm 25.524 MW. Tuy nhiên, tiến độ triển khai lại không đồng đều. Chuỗi dự án khí trong nước như Cá Voi Xanh, Báo Vàng chưa thể triển khai. Chuỗi Lô B - Ô Môn đang được thúc đẩy nhưng vẫn cần đồng bộ giữa khai thác khí và phát điện.

Ở mảng điện LNG, hiện mới chỉ có dự án Nhơn Trạch 3 và 4 với tổng công suất 1.624 MW đã vận hành từ cuối năm ngoái. Nhưng ngoài phần này, chỉ những dự án với khoảng 8.110 MW điện khí được đánh giá có khả năng vận hành trong giai đoạn 2026-2030. Phần còn lại, dù đã có nhà đầu tư hoặc dự án đang đàm phán, vẫn đối mặt với các vướng mắc lớn về cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện, bảo lãnh và phân bổ rủi ro.

Điện gió ngoài khơi, theo đánh giá của Cục Điện lực, mục tiêu đạt 6.000 MW vào năm 2030 là “khó khả thi”, nhất là khi đến nay chưa có dự án nào được chấp thuận đầu tư. Vướng mắc không nằm ở tiềm năng mà ở khung pháp lý: từ khảo sát, không gian biển đến lựa chọn nhà đầu tư đều chưa hoàn chỉnh.

Theo Cục Điện lực, mục tiêu đạt 6.000 MW điện gió ngoài khơi đến năm 2030 là khó khả thi khi khung pháp lý còn gặp nhiều vướng mắc.

Với thủy điện, tổng công suất đến năm 2030 dao động quanh 33.000-34.600 MW. Song phần được kỳ vọng tạo độ linh hoạt cho hệ thống thủy điện tích năng lại đang hụt hơi. Quy hoạch đặt mục tiêu loại hình này sẽ cho sản lượng điện là 2.400-6.000 MW, nhưng hiện mới có 2 dự án có chủ đầu tư, nên mục tiêu đạt 6.000 MW sẽ khó khả thi.

Trong khi đó, điện than vẫn được duy trì, với khoảng 4.693 MW từ 5 dự án đang xây dựng. Tuy nhiên, Cục Điện lực nhận định xu hướng chung là chậm khoảng 1 năm so với kế hoạch, trong bối cảnh khó khăn về tài chính và áp lực chuyển dịch năng lượng ngày càng lớn.

Ở chiều bổ sung nguồn, nhập khẩu điện cũng chưa thực sự chắc chắn. Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu nhập khẩu 9.360-12.100 MW từ Lào, nhưng đến cuối 2025 mới có 5.881 MW dự kiến vận hành giai đoạn 2026-2030. Phương án nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn vướng cơ chế và chưa thể triển khai đúng tiến độ.

Ngay tại các địa phương, độ trễ còn rõ hơn. Theo Cục Điện lực, Khánh Hòa có 107 dự án nguồn điện nhưng mới hơn 40% được chấp thuận đầu tư; Cà Mau mới triển khai được 13/33 dự án; Sơn La còn nhiều dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Những con số này cho thấy không thiếu dự án, nhưng thiếu tiến độ thực thi.

Nguy cơ thiếu điện hiện hữu

Theo Cục Điện lực, trong kịch bản các dự án nguồn được triển khai đúng tiến độ, hệ thống điện vẫn có thể đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Tuy nhiên, với tình hình hiện tại, rủi ro thiếu công suất vào giờ cao điểm đã bắt đầu hiện hữu, đặc biệt là tại khu vực miền Bắc.

Năm 2026 và 2027 được xem là khoảng thời gian nhạy cảm khi nhu cầu điện tăng mạnh vào các tháng nắng nóng, trong khi nhiều nguồn điện mới chưa kịp đưa vào vận hành.

Phần lớn các dự án điện khí LNG hiện có nguy cơ lùi sau mốc 2030.

Cập nhật tiến độ cho thấy, nhiều nguồn điện chủ lực đều bị kéo lùi. Nhiệt điện than nhìn chung chậm khoảng một năm; phần lớn các dự án LNG lùi sau mốc 2030, ngoại trừ một số dự án như Hiệp Phước, Quảng Trạch II, Hải Phòng giai đoạn I; các dự án khí trong nước thuộc chuỗi Cá Voi Xanh, Báo Vàng cũng khó về đích trước năm 2030; trong khi phương án nhập khẩu điện từ Trung Quốc tiếp tục chậm triển khai.

Trong kịch bản các nguồn điện gió, điện mặt trời tập trung, điện nhập khẩu từ Lào, thủy điện nhỏ và điện mặt trời mái nhà vẫn bám tiến độ thì hệ thống năm 2026 về cơ bản vẫn đảm bảo cung ứng điện. Tuy nhiên, áp lực vào giờ cao điểm, đặc biệt là trong mùa khô tại miền Bắc, sẽ khó tránh khỏi mức công suất cần điều chỉnh có thể dao động 500-2.700 MW tùy theo kịch bản vận hành.

Từ năm 2027 trở đi, nếu các nguồn điện nền tiếp tục chậm so với quy hoạch, hệ thống có thể đối mặt với thiếu hụt quy mô lớn và gia tăng theo từng năm. Riêng tại miền Bắc, trong trường hợp không kịp bổ sung các nguồn linh hoạt như BESS (hệ thống lưu trữ năng lượng) và nguồn điện nhanh như ICE (động cơ đốt trong), nguy cơ thiếu công suất giờ cao điểm có thể xuất hiện sớm từ năm 2027.

Đáng chú ý, trong kịch bản bất lợi, giai đoạn 2028-2030, mức thiếu hụt công suất có thể lên tới 9-19 GW, tương đương 10-37% nhu cầu đỉnh, trong khi thiếu hụt sản lượng dao động từ 0,85-27 tỷ kWh, chiếm khoảng 0,5-9% tổng nhu cầu điện.

Ở quy mô toàn hệ thống, tổng công suất khả dụng vào năm 2030 được tính toán thấp hơn nhu cầu cực đại. Sản lượng điện tối đa có thể cung cấp chỉ đạt khoảng 544 tỷ kWh, trong khi nhu cầu dự kiến lên tới 560-625 tỷ kWh.