Ung thư tuyến giáp thể nhú kích thước nhỏ, tỷ lệ tử vong gần như bằng 0

Dù việc siêu âm sàng lọc đại trà vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa được khuyến cáo rộng rãi do tốn kém nguồn lực, nhưng ở góc độ cá nhân, kiểm tra định kỳ vẫn có thể giúp phát hiện bệnh ung thư tuyến giáp sớm, tránh những can thiệp nặng nề ở giai đoạn muộn.

Ths.BS Nguyễn Xuân Quang - Trưởng khoa Tai mũi họng và phẫu thuật Đầu cổ, BVĐK Hồng Ngọc Phúc Trường Minh cho rằng: Ung thư tuyến giáp là loại ung thư nội tiết phổ biến nhất, thường gặp ở phụ nữ trẻ và có tiên lượng rất tốt với tỷ lệ sống cao. Tuy nhiên, trong khoảng 20 năm qua (2000 - 2020) tại Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng gấp 5 lần trong khi tỷ lệ tử vong gần như không thay đổi.

Ths.BS Nguyễn Xuân Quang - Trưởng khoa Tai mũi họng và phẫu thuật Đầu cổ, BVĐK Hồng Ngọc Phúc Trường Minh.

Phần lớn sự gia tăng này (70 - 80%) đến từ chẩn đoán quá mức, nhưng vẫn có khoảng 20 - 30% là gia tăng thực sự do các yếu tố như phơi nhiễm bức xạ, rối loạn chuyển hóa, dinh dưỡng, lối sống và môi trường. Nghịch lý này đặt ra thách thức lớn trong y khoa về việc tránh điều trị quá mức ở nhóm nguy cơ thấp, đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát hiệu quả các trường hợp nguy cơ cao.

Trong bối cảnh đó, chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã có bước tiến từ tế bào học sang sinh học phân tử. Không chỉ dừng lại ở siêu âm hay chọc hút tế bào kim nhỏ (FNA), các kỹ thuật hiện đại còn cho phép phân nhóm nguy cơ và thực hiện xét nghiệm gen ngay trên mẫu tế bào, giúp định hướng chiến lược điều trị từ sớm.

Dù việc siêu âm sàng lọc đại trà vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa được khuyến cáo rộng rãi do tốn kém nguồn lực, nhưng ở góc độ cá nhân, kiểm tra định kỳ vẫn có thể giúp phát hiện bệnh sớm, tránh những can thiệp nặng nề ở giai đoạn muộn.

Xu hướng điều trị hiện nay nhấn mạnh cá thể hóa, trong đó theo dõi chủ động đang dần thay thế tư duy phẫu thuật ngay lập tức ở nhiều trường hợp. Với ung thư tuyến giáp thể nhú kích thước nhỏ, không xâm lấn hay di căn, việc theo dõi dài hạn cho thấy tỷ lệ tử vong gần như bằng 0, trong khi chỉ khoảng 8 - 15% bệnh nhân cần chuyển sang phẫu thuật sau thời gian theo dõi. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc trì hoãn phẫu thuật từ 5 - 10 năm không làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị hay phạm vi can thiệp sau này, đặc biệt có ý nghĩa đối với bệnh nhân lớn tuổi.

Khi phẫu thuật là cần thiết, mục tiêu không chỉ là loại bỏ khối u mà còn phải bảo tồn tối đa chức năng và đảm bảo thẩm mỹ. Thay vì cắt toàn bộ tuyến giáp một cách máy móc, nhiều trường hợp có thể chỉ cần cắt thùy tuyến giáp nếu khối u nhỏ, đơn ổ và chưa xâm lấn.

Việc sinh thiết tức thì trong mổ giúp bác sĩ đánh giá chính xác mức độ bệnh để quyết định phạm vi can thiệp phù hợp. Bên cạnh đó, các kỹ thuật mổ nội soi tiếp cận từ xa, đặc biệt là qua đường miệng, giúp loại bỏ hoàn toàn sẹo vùng cổ, đồng thời đảm bảo hiệu quả điều trị và rút ngắn thời gian hồi phục.

Các công nghệ hỗ trợ hiện đại như theo dõi thần kinh liên tục (NIM), huỳnh quang ICG hay dao năng lượng siêu âm cũng góp phần nâng cao độ an toàn và chính xác trong phẫu thuật.

Có thể thấy, điều trị ung thư tuyến giáp đang bước vào một kỷ nguyên mới, trong đó cá thể hóa trở thành nguyên tắc cốt lõi. Sự kết hợp giữa chẩn đoán đa chiều, theo dõi chủ động và phẫu thuật xâm lấn tối thiểu không chỉ giúp tránh điều trị quá mức mà còn tối ưu hóa chất lượng sống cho người bệnh.