Tên thật của ông là Trần Văn Kìa, sinh năm 1920, ở cù lao Rùa thuộc xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa cũ (nay là Bình Dương). Cuối năm 1946, có một tên Pháp từ đồn Tân Ba xuống Thạnh Hội.
Hai Cà lần theo sau lưng tên giặc Pháp, tới chỗ vắng vẻ bất ngờ lao ra ôm chân quật ngã tên Pháp, dùng dây cột bò trói lại, tước khẩu súng trường với 200 viên đạn giao cho khu quân sự Tân Uyên.
Tuy mạo hiểm, nhưng ngay từ lúc trẻ Hai Cà đã thể hiện tính gan dạ, dũng cảm thường bất ngờ đánh địch. Hơn nữa, thời bấy giờ bộ đội có thêm khẩu súng là vô cùng quý giá.
Sang năm 1948, địch thua đau trên khắp chiến trường Trung Nam Bắc, chúng điên cuồng càn quét, cuớp bóc, hãm hiếp, bắn giết.
Thực hiện chiến dịch Đờ- La- Tua, chúng dựng lên nhiều đồn bót tháp canh kiên cố dọc theo các tuyến quốc lộ có cự ly gần nhau để canh giữ, yểm trợ nhau giành dân, lập ấp kiểm soát. Giữa 5-7 tháp canh, có một tháp canh mẹ xây dựng lớn hơn, kiên cố hơn làm trung tâm ứng cứu các nơi khi bị bộ đội ta tấn công.
Sau nhiều tháng điều tra, nghiên cứu và làm tháp canh giả trong căn cứ luyện tập cách đánh đặc công, tổ trưởng Trần Công An cùng với hai trinh sát Trần Văn Nguyên và Hồ Văn Lung mang 9 trái lựu đạn dập, 1 trái lựu đạn FO (tấn công) bôi bùn, trét tro lên người ngụy trang, bò sát đất rồi bất ngờ đột nhập vào ba tầng tháp canh cầu Bà Kiên trên lộ 16 thuộc ấp Mỹ Chánh, Phước Thành, Tân Uyên.
Bọn địch hầu như không biết gì. Lựu đạn nổ tung tháp, diệt gọn 11 tên địch. Tổ thu 8 khẩu súng và 20 quả lựu đạn. Hai Cà bị thương nhẹ, hai anh Nguyên và Lung dìu Hai Cà rút lui an toàn.
| Anh hùng lực lượng vũ trang Trần Công An |
Trận đánh đặc công tháp canh cầu Bà Kiên của tổ du kích Hai Cà đã được huyện đội Tân Uyên biểu dương, tổ chức học tập áp dụng trong huyện.
Sau đó Quân khu 7, Tỉnh đội Biên Hòa khen thưởng, đúc kết thành kinh nghiệm cho toàn khu vực miền Đông và cả nước về lối đánh đặc công mà sau này, ngày 19/3/1967, nhân dịp cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Binh chủng đặc công, Bác Hồ đã khen : “Đặc biệt tinh nhuệ/ Anh dũng tuyệt vời/ Mưu trí táo bạo/ Đánh hiểm thắng lớn”.
Từ cách đánh đặc công của Hai Cà, các nơi khác như Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Tuy, Bà Rịa, Vũng Tàu, Long An, Mỹ Tho, Cà Mau, Đà Nẵng… đã giòn giã lập nên những chiến công lừng lẫy khiến cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía.
Năm 1954, Trần Công An tập kết ra Bắc, làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 656 và đến tháng 2/1961, Bộ Tổng tham mưu quyết định cử Trần Công An làm Trưởng đoàn 1 với 205 cán bộ đi B.
Nén nỗi đau riêng, cha con cùng trận tuyến
Cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968, Biên Hòa được Bộ Chỉ huy Quân sự Miền xác định là một trọng điểm vô cùng quan trọng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng BCH Quân sự Miền - Lê Đức Anh (sau này là Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam) chỉ rõ: Biên Hòa là nơi có căn cứ lớn của Mỹ - ngụy, nơi tập trung sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Đánh vào Biên Hòa nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy kho tàng, bom đạn, máy bay… gây thiệt hại nặng cho Mỹ-ngụy.
Trần Công An - Tỉnh đội trưởng U1 (Biên Hòa) được chỉ định làm Phó Tư lệnh Bộ Chỉ huy tiền phương mặt trận Biên Hòa.
Chiều 29 Tết (30/1/1968), Sư đoàn 5 từ chiến khu Đ vượt sông Đồng Nai, tập kết tại hốc Ông Tạ (xã Tân Định, Vĩnh Cửu) cùng Tiểu đoàn 1 đặc công U1, lực lượng biệt động Biên Hòa, bộ đội các huyện Trảng Bom, Vĩnh Cửu hội quân ăn Tết trước và xuất quân theo tinh thần Quang Trung – Nguyễn Huệ diệt quân Thanh ngày xưa.
Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra tại sân bay Biên Hòa, kho bom Long Bình, căn cứ Trảng Bom, ta với địch giằng co từng tấc đất.
Chiều 1/2/1968, Bộ Chỉ huy tiền phương họp kiểm điểm tình hình, quyết định giao nhiệm vụ cho Trần Công An và đồng chí Phó bí thư Đảng ủy mặt trận Phan Văn Trang (Năm Trang- nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai) huy động cấp bách chiến sĩ biệt động, đặc công U1 bí mật đưa 250 thương binh vượt tầm hỏa lực của địch ngay tại thành phố Biên Hòa, vượt qua sông Đồng Nai chuyển giao cho trạm quân y an toàn.
Cũng trong ngày đó, ông nhận hung tin con trai Trần Văn Mum, 16 tuổi hy sinh vào đêm 27/1/1968 trước giờ G đúng 4 ngày. Anh Mum được anh trai mình là Trần Văn Khỉa- Tổ trưởng thông tin cử đưa chiến sĩ báo vụ đến Sở chỉ huy tiền phương đào hầm đặt thông tin điện đài
Trên đường về, Mum lọt vào ổ phục kích lính Úc tại bàu Điên Điển và đã hy sinh. Hồi giữa năm 1967, anh con trai lớn Trần Văn Cao - Đại đội phó đặc công U1 chấp hành mệnh lệnh cha mình là Tỉnh đội trưởng Hai Cà vào sân bay Biên Hòa điều tra nghiên cứu sa bàn chuẩn bị cho trận đánh sau này, anh trúng mìn bị thương gãy một chân phải.
Đồng đội vừa chiến đấu chống trả địch vừa cõng anh về căn cứ an toàn. Nay lại tin con trai hy sinh, vị Phó Tư lệnh chết lặng trong lòng, ông cố nén nỗi đau riêng để lo cho cuộc chiến đấu chung của cả dân tộc.
Anh hùng bình dị giữa đời thường
Năm 1980, ông xin nghỉ hưu, ở tại Thủ Đức. Nhưng tay chân cứ bồn chồn, thích được lao động sản xuất nên sau đó ông chuyển về sinh sống ở Tân Uyên. Ông từng được tỉnh Sông Bé tuyên dương điển hình nông dân - cựu chiến binh sản xuất giỏi.
Khoảng năm 1991, sức khỏe ông hơi yếu, do vết thương cũ tái phát khi tuổi về già, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Nai, TP Biên Hòa đã xây tặng cho ông một ngôi nhà khá tươm tất ngay sát bên tượng đài Chiến thắng sân bay Biên Hòa, thuộc phường Trung Dũng để ông bà sống vui vẻ tuổi già. Năm 2004 bà qua đời, ông sống một mình cho đến ngày ngã bệnh…
Đến thăm nhà ông Hai Cà, chúng tôi nhìn thấy quanh tường treo đầy các bức ảnh lưu niệm các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến thăm; các huân huy chương, bằng khen, giấy khen, còn lại không có vật gì đáng giá.
Ông sống giữa phố bao nhiêu năm mà vẫn nấu cơm bằng củi khô “cho đỡ tốn kém”, bì thư ai gửi đến, ông cắt cẩn thận rồi lộn bên trong dùng tiếp một lần nữa. Trước cửa chính căn nhà, ông lập một bàn thờ, thờ hai chữ “Liệt sỹ” mà đối với ông luôn là sự thổn thức trong tâm linh của một vị chỉ huy từng vào sinh ra tử.