Kinh tế Việt Nam 80 năm:

Khi doanh nghiệp là biểu tượng quốc gia, lực lượng chiến lược cạnh tranh quốc tế

Trong thành tựu kinh tế 80 năm qua, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, khi kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng của nền kinh tế thì doanh nghiệp nhà nước cần làm gì để không chỉ là biểu tượng nội lực quốc gia mà còn là lực lượng chiến lược trong cạnh tranh quốc tế? Theo giới chuyên gia, cần một cuộc đại phẫu: Vừa từ thể chế Nhà nước (trao quyền), vừa từ nội tại doanh nghiệp (tự làm mới).

PV Tiền Phong có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh về vai trò then chốt của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, năng lực cạnh tranh trong thời kỳ mới.

- Thưa ông, trong thành tựu đất nước 80 năm có dấu ấn lớn của doanh nghiệp nhà nước. Từ năm 1986, công cuộc đổi mới của nước ta đặt ra vấn đề sắp xếp lại khu vực kinh tế quốc doanh. Ông có thể phân tích về vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước qua nhiều thời kỳ?

Có thể nói rằng, vai trò của doanh nghiệp nhà nước thể hiện rõ qua các kỳ đại hội. Đại hội VI (năm 1986), Đảng xác định kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, chi phối và doanh nghiệp quốc doanh đồng nhất với kinh tế quốc doanh, trong đó doanh nghiệp quốc doanh “chiếm tỷ trọng lớn trong cả sản xuất và lưu thông”. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội VII (năm 1991).

Đại hội VIII (năm 1996), khái niệm “kinh tế nhà nước” được sử dụng thay thế cho “kinh tế quốc doanh”. Kinh tế nhà nước được hiểu rộng hơn, đây không chỉ là doanh nghiệp nhà nước mà còn bao gồm ngân sách nhà nước, các tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

Vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước được khẳng định chi tiết hơn trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX (năm 2001): “Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế”.

Đại hội X (năm 2006) có sự điều chỉnh nhất định về vị trí của doanh nghiệp nhà nước, đó là “thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp” và “tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích”.

Đại hội XII (năm 2016), Đảng có bước phát triển mới trong quan điểm về vai trò: “Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư”.

Đại hội XIII (năm 2021) nhấn mạnh: “Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”.

Qua các kỳ Đại hội, chủ trương, quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của doanh nghiệp nhà nước có sự đổi mới tư duy, nhận thức và được thể hiện trên những phương diện sau: Từ sự đồng nhất doanh nghiệp quốc doanh với kinh tế quốc doanh sang tách bạch doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận của kinh tế nhà nước; doanh nghiệp nhà nước từ chỗ chiếm tỉ trọng lớn trong cả sản xuất và lưu thông sang tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; thu hẹp những lĩnh vực nhà nước độc quyền kinh doanh, Nhà nước chỉ tham gia vào những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư.

- Trong cấu trúc nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 0,3% số lượng doanh nghiệp nhưng nắm giữ khối tài sản khổng lồ, đóng góp gần 30% GDP. Điều này thể hiện rõ ràng sự chi phối của khu vực kinh tế nhà nước, ông có bình luận gì?

Hiện Việt Nam có hơn 670 doanh nghiệp nhà nước, khoảng 2/3 là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, còn lại là doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối. Dù chỉ chiếm khoảng 0,3% tổng số doanh nghiệp cả nước, nhưng doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ tới gần 4 triệu tỷ đồng (số liệu Bộ Tài chính 2024), đóng góp gần 30% GDP - một tỷ trọng không thể xem nhẹ trong cấu trúc nền kinh tế.

Theo bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2023, trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất có tới 8 doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước, chỉ có 2 doanh nghiệp khu vực tư nhân. So sánh theo quy mô vốn, năm 2023, vốn chủ sở hữu của 10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam khoảng 15.300 tỷ đồng, con số này rất nhỏ so với 95.200 tỷ đồng của 10 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất. Theo Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam, doanh thu của 10 doanh nghiệp tư nhân vào khoảng 33.300 tỷ đồng, nhỏ hơn nhiều lần so với 135.400 tỷ đồng của 10 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất.

Khi nguồn lực quốc gia có hạn, sự gia tăng về quy mô tài sản của khu vực doanh nghiệp nhà nước có khả năng cạnh tranh và ảnh hưởng tới nguồn lực của các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác. Trong giai đoạn 2010 - 2021, tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tương ứng là 0,51%; 99,23% và 2,95%.

Tính đến hết năm 2021, doanh nghiệp nhà nước thu hút nguồn vốn lớn nhất với 33 triệu tỷ đồng, chiếm 60,5% vốn và nguồn vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh là 10,9 triệu tỷ đồng, chiếm tới 20,0% tổng nguồn vốn của toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp nhà nước đã tăng từ gần 1.760 tỷ đồng năm 2010 lên mức gần 4.600 tỷ đồng năm 2015. Năm 2022 đạt con số hơn 2.530 tỷ đồng.

- Hiện nay, kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng của nền kinh tế, theo ông vai trò của doanh nghiệp nhà nước có suy giảm? Doanh nghiệp nhà nước cần làm gì trong bối cảnh mới để không chỉ là biểu tượng nội lực quốc gia mà còn là lực lượng chiến lược trong cạnh tranh quốc tế?

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, nhưng không vì thế mà vai trò của doanh nghiệp nhà nước suy giảm. Ngược lại, sự song hành giữa khu vực tư nhân năng động và doanh nghiệp nhà nước hiệu quả là điều kiện cần thiết để nền kinh tế phát triển bền vững, tự chủ hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong giai đoạn 2025 - 2030, yêu cầu đặt ra với doanh nghiệp nhà nước không dừng lại ở bảo toàn vốn hay bảo đảm hoạt động ổn định, mà phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong những lĩnh vực then chốt như chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Với lợi thế quy mô, tài nguyên và hạ tầng, doanh nghiệp nhà nước có thể trở thành đầu tàu thúc đẩy chuyển đổi số trong logistics, năng lượng, tài chính công…; phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn.

Trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, xử lý chất thải, nông nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhà nước cần gánh vác vai trò khởi xướng và dẫn dắt; là trụ cột trong bảo đảm bình đẳng tiếp cận dịch vụ cho người dân an sinh xã hội và dịch vụ công doanh nghiệp nhà nước trong ngành y tế, giao thông, giáo dục...

Doanh nghiệp nhà nước cần hội nhập và định vị thương hiệu Việt, khẳng định vai trò không chỉ là biểu tượng nội lực quốc gia mà còn là lực lượng chiến lược trong cạnh tranh quốc tế.

Tuy nhiên, để hoàn thành vai trò này, doanh nghiệp nhà nước không thể tiếp tục tồn tại trong tư duy “được bao cấp, không cần cạnh tranh”. Cần một cuộc cải cách kép: Vừa từ thể chế Nhà nước (trao quyền), vừa từ nội tại doanh nghiệp (tự làm mới).

Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt chuyển đổi mô hình tăng trưởng, được trao quyền để doanh nghiệp thực sự “ra sân”. Doanh nghiệp cần được xác định là lực lượng chủ công trong các lĩnh vực có vai trò kiến tạo, ổn định và dẫn dắt. Cùng với đó, xây dựng hệ thống giám sát hiệu quả, minh bạch, tránh lạm dụng quyền lực hoặc buông lỏng quản lý. Nâng cao năng lực hội đồng quản trị, quản lý doanh nghiệp nhà nước, gắn trách nhiệm với hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững.

Đổi mới cách tiếp cận quản lý vốn nhà nước, theo hướng phân biệt rõ vai trò Nhà nước - doanh nghiệp, không can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ khi được trao quyền thực sự đi kèm với cơ chế giám sát hợp lý và sự chủ động từ chính doanh nghiệp nhà nước, khu vực doanh nghiệp nhà nước mới có thể phát huy vai trò “người mở đường”, đồng hành với khu vực tư nhân đưa nền kinh tế Việt Nam tiến nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Xin cảm ơn ông!

"Phá rào" cho kinh tế tư nhân

Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Hà Huy Ngọc - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, chiến lược kinh tế địa phương và lãnh thổ, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới - cho rằng, sau 80 năm thành lập nước Việt Nam đã có hơn 930.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoảng 14.400 hợp tác xã và hơn 5 triệu hộ kinh doanh. Năm 2024, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50,4% GDP, tạo ra khoảng 30% nguồn thu ngân sách nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động.

TS. Hà Huy Ngọc - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, chiến lược kinh tế địa phương và lãnh thổ, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Một lực lượng doanh nghiệp tư nhân dân có quy lớn, đủ tầm để dẫn dắt sự phát triển của đất nước, đủ năng lực về quy mô vốn, trình độ công nghệ và quản trị doanh nghiệp hiện đại, có thương hiệu tại thị trường khu vực và thế giới, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế như: Vingroup, SunGroup, Thaco, Hòa Phát, TH, T&T, KN Holdings, Geleximco, Minh Phú, Masan, Sovico, TH True Milk, Cơ điện lạnh…

TS. Hà Huy Ngọc phân tích, kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, quan điểm của Đảng ta về khu vực kinh tế tư nhân luôn nhất quán và xuyên suốt: Từ chỗ không được công nhận đến công nhận nhưng chưa coi trọng, sau đó là được xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, nhất là cho tăng trưởng và phát triển bền vững đất nước. Quá trình đổi mới nhận thức là một quá trình kéo dài, nhiều thập kỷ và nó được ví như là một cuộc cách mạng.

Văn kiện Đại hội VI năm 1986 viết: “Sử dụng kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ) trong một số lĩnh vực, ngành, nghề”. Tuy nhiên, văn kiện Đại hội VII năm 1991 đã nêu: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm”. Sau đó, văn kiện Đại hội VIII năm 1996 chỉ rõ: “Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước”. Tại văn kiện Đại hội IX năm 2001 nhấn mạnh rằng: “Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm”.

Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Ảnh: VF.

Văn kiện Đại hội X năm 2006 đã có một bước tiến mạnh mẽ về quan điểm, nhận thức khi nhấn mạnh: “Xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”. Văn kiện Đại hội XI năm 2011 nêu rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”.

Sau đó, các văn kiện Đại hội XII năm 2016 và Đại hội XIII năm 2021 tiếp tục nhấn mạnh rằng: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Hành trình của 40 năm đổi mới gắn liền với những chủ trương, quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân.

Văn kiện các đại hội của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (2017) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2020) và gần đây nhất là Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XIII (2023) về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đến nay, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã chính thức khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân.