Đế chế La Mã – Từ thành bang nô lệ trở thành đế chế không có điểm kết thúc – Kỳ I

Đế chế La Mã đã tham gia tạo dựng nên một nền văn minh tiến bộ bằng sự hiểu biết, ham học hỏi mà thế giới hiện đại đang kế thừa và phát triển.
 
 
 

Từ 1500 năm trước công nguyên, một cộng đồng người di cư đã vượt dãy Alps và biển Adriatic tới phía Đông của bán đảo Italia khai hoang. Họ sinh sống, trồng trọt trong một thị trấn nhỏ có tên là thành Roma. Và cũng chính những người nông dân di cư này, bằng nỗ lực phi thường đã xây dựng nên đế chế La Mã, một đế chế được mệnh danh là "Imperium sine fine" - Đế chế không có điểm kết thúc, không bị giới hạn về cả thời gian hay không gian. Đồng thời là đế chế hình mẫu cho sự ưu việt về văn hóa, công nghệ, quân sự và xã hội đương thời.

Tôn sùng kỷ luật tuyệt đối nên người La Mã có những nhà lãnh đạo cứng rắn, luôn kiên quyết thực thi mục tiêu. Quân đội Roma cũng thể hiện những tiêu chuẩn của xã hội nghiêm khắc này. Khi xung trận, một đội quân có tính kỷ luật cao được dẫn dắt bởi một người chỉ huy quyết đoán sẽ cùng nhau chiến đấu và kiên trì cho đến khi chiến thắng đối thủ. Người La Mã đã sử dụng quân đội của mình để thống trị cư dân chung quanh. Đến thế kỷ 7 và 6 TCN, người La Mã chinh phục rất nhiều nơi thuộc Italy và các vùng đất ngoài Italy. Họ bắt đầu lớn mạnh nhanh chóng và thành lập nên Vương quốc La Mã.

 

Trong thời kì cổ đại, giáo dục La Mã tuy còn sơ khai nhưng được xem là cực kì tiến bộ. Họ đào tạo ra những con người cho đất nước theo những phương pháp chủ động, tích cực. Những môn học được giảng dạy ở thời kì này bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: chính trị, quân sự, văn hóa, lịch sử, xã hội, ngữ pháp, hùng biện, logic… với phương pháp học đòi hỏi sự tư duy và lý luận sâu sắc, chính là nền tảng quan trọng cho một nền giáo dục Tây Âu đương đại.

Người La Mã chính thức có chữ viết vào thế kỉ VI TCN có nguồn gốc từ văn tự Hy Lạp, họ đã bổ sung và hoàn thiện, đặt ra một loại chữ viết riêng của mình – chữ Latinh trở nên phổ biến và chính là nguồn gốc của các ngôn ngữ ở Châu Âu. Nhờ có chữ Latinh mà chúng ta phát triển được ra ngôn ngữ chung cho cả thế giới, thúc đẩy nhiều lĩnh vực phát triển như chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học, nghệ thuật… mang mọi nền văn hóa của các quốc gia dần xích lại gần nhau hơn.

Văn học La Mã chủ yếu tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học Hy Lạp gồm nhiều thể loại như sử thi, thơ trữ tình, thơ trào phúng, văn xuôi, kịch… Người La Mã tiếp thu và cải biên đi thành những vị thần của mình như: Thần Zeus – thần Jupiter, Thần Hera, Poseidon, Demeter, Athena… và các vị thần chính là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch. Trong đó, thần thoại của La Mã luôn gắn liền với những câu chuyện từ các vị thần cùng những khát vọng gần gũi với con người hơn.

Titus Livius (59 TCN-17 SCN) nhà sử học xuất sắc của La Mã trong thời kì trị vì của Augustus đã viết  Lịch Sử La Mã dài 142 chương, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước qua lịch sử hào hùng của dân tộc... Những thành tựu này, đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền sử học thế giới.

Đền Pantheon một trong những công trình kiến trúc vĩ đại của đế chế La Mã

Kiến trúc La Mã phát triển rực rỡ, đại diện tiêu biểu La Mã là Vitrius (86-26 TCN), ông đã dành cả cuộc đời để viết về các kỹ thuật kiến trúc xây dựng và đây cũng chính là bộ sách duy nhất thời cổ đại được bảo tồn nguyên vẹn đến ngày nay.

Trong đó, phải kể đến biểu tượng Colosseum đấu trường lớn nhất, vĩ đại nhất của đế chế La Mã được xây dựng năm 72 sau CN, hoàn thành sau 8 năm với chiều cao 8m, dài 189m, rộng 156m, diện tích dáy 24.000 m2, chu vi bên ngoài 545m và kích thước đấu trường trung tâm là 87m x 55m. Để xây dựng nên công trình này, người La Mã đã sử dụng 100.000 m3 đá, 300 tấn kẹp sắt để kết nối. Colosseum có sức chứa 50.000-80.000 khán giả. Đây nơi diễn ra những màn tử chiến vô cùng đẫm máu và tàn bạo giữa các tù binh giác đấu, các tù binh chiến tranh, nô lệ cùng những con quá thú nhằm mục đích mua vui cho vua chúa và người dân. Tiếp đến là trường đua Cirus Maximus có sức chứa 250.000 khán giả. Đấu trường này, đã mang lại cho các tay đua nguồn thu nhập khổng lồ so với những vận động viên thể thao đương đại.

Về lĩnh vực khoa học La Mã có sự tiến bộ vượt bậc, tiêu biểu như Heron (thế kỷ I) - một kỹ sư tài ba và là nhà toán học xuất sắc với các cách tính diện tích. Nhà toán học và thiên văn học Menelaus (thế kỷ II –III) đã chứng minh được tổng các góc trong một tam giác cầu lớn hơn 180 độ và cách tính dây cung mặt cầu.

Nhà toán học Claudius Ptolemy (khoảng thế kỷ thứ II) - người đầu tiên vẽ bản đồ trái đất, lấy Địa Trung Hải làm trung tâm với tác phẩm "Hệ thống vũ trụ", ông cho rằng trái đất là hình tròn đã giúp các nhà địa lý tìm ra những miền đất mới.

Nhà triết học, thầy thuốc Claudius Galen (131- đầu thế kỉ III) đại diện xuất sắc cho nền y học tiến bộ của La Mã với tác phẩm "Phương pháp chữa bệnh" chứng minh được rằng các mạch vận chuyển máu, nếu như cắt đứt dù chỉ là một mạch máu nhỏ cũng đủ để làm cho máu chảy trong vòng nửa giờ.

Nếu như trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật người La Mã được xem như một học trò của người Hy Lạp thì về mặt luật pháp, người La Mã được xem là bậc thầy. Cùng với những thành tựu khác, luật pháp của người La Mã cũng đã có những đóng góp nhất định vào nền văn minh chung của nhân loại. Bộ luật 12 bảng với tiến bộ vượt bậc đã chống lại sự phán xét độc đoán của giới quý tộc, bảo vệ quyền lợi và danh dự cho mọi công dân. Luật La Mã ảnh hưởng đến hệ thống pháp lý sau này của phương Tây và nhiều quốc gia hiện đại.

 

Cuối thế kỉ thứ II TCN - đầu thế kỉ thứ I, đạo Kitô ra đời ở La Mã. Sau khi người La Mã theo Kitô giáo đã nâng tôn giáo này từ một giáo phái nhỏ thành một trong các tôn giáo lớn của thế giới.

Những đóng góp của đế chế La Mã có huy hoàng, xán lạn đến đâu đi chăng nữa cũng đều bắt nguồn từ nỗ lực học hỏi, sáng tạo không ngừng từ nhiều nền văn minh khác, trong đó có Hy Lạp. Họ đã tiếp thu, hoàn chỉnh thành cá riêng của dân tộc mình. Nếu như không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật, khoa học Hy Lạp và đế chế La Mã; không có cơ sở của văn minh Hy Lạp và đế chế La Mã thì cũng không có châu Âu hiện tại được.

 

Đế chế La Mã được hình thành từ khát vọng chinh phục nhưng lại duy trì và phát triển nhờ tinh thần kỹ luật, tinh thần sáng tạo không ngừng, mà còn bởi ở tài năng của vị thủ lĩnh kiệt xuất như Julius Caesar đã gắn kết cả dân tộc bằng một tinh thần đoàn kết. Ông đã kết nối các cá nhân lại với nhau thành một thể thống nhất nhằm đánh bại mọi kẻ thù tạo nên đế chế La Mã hùng mạnh nhất trong lịch sử.

Julius Caesar trưởng thành trong thời kỳ hỗn loạn, nội bộ La Mã bị chia rẽ thành hai phe Quý tộc bảo thủ và Dân chủ. Bên ngoài, các quốc gia đồng minh liên tục gây chiến, tranh giành lãnh thổ. Năm Caesar 16 tuổi, cha ông đột tử, toàn bộ tài sản thừa kế bị bọn quan độc tài sung công. Ông quyết định gia nhập quân đội phục vụ ở khu vực Tiểu Á, thời cuộc hỗn loạn đã trở thành môi trường đào tạo và đòn bẩy giúp cho Caesar sớm bộc lộ tài năng quân sự của mình.

Julius Caesar là một thủ lĩnh đầy khát vọng. Khi còn tham gia quân đội tham chiến tại Gaul (nay là Pháp và Bỉ), ông đánh bại những bộ lạc ở đây, trở thành thủ lĩnh vùng Gaul và xây dựng quân đội để bắt đầu thực hiện các hoạt động quân sự nhằm củng cố vị thế

Caesar sớm bộc lộ mong muốn trở thành một trong những lãnh đạo vĩ đại của La Mã. Ông cũng là nhà cầm quân thiện chiến, luôn đặt lợi ích cá nhân dưới cộng đồng, đặt bản thân mình dưới đất nước và các đối thủ mạnh hơn nhiều lần cũng không làm ông sợ hãi. 

Trong trận chiến nổi tiếng Pharsalus, ông đã chỉ huy đội quân 22.000 người đánh bại hoàn toàn đội quân 60.000 binh sĩ của phe Quý tộc. Sau đó, Julius Caesar dẫn quân chinh phục vùng Trung Đông, Bắc Phi mở rộng bờ cõi La Mã. Ông cũng là người hỗ trợ về quân sự để Cleopatra có thể trở thành nữ hoàng Ai Cập. Với các chiến công hiển hách, khi trở lại La Mã, Julius Caesar được tôn làm nhà lãnh đạo tối cao của La Mã và tôn làm Cha của Đất nước.

Ngay từ thuở thiếu thời, dù không giàu có nhưng gia đình Julius Caesar đã mời một nhà hùng biện nổi tiếng về dạy dỗ ông. Sau này, để hoàn chỉnh kỹ năng của mình, Julius Caesar còn theo học một nhà hùng biện nổi tiếng khác của La Mã. Với tài hùng biện xuất sắc, ông đã thuyết phục được một lực lượng hùng mạnh phò trợ cho mình. Bên cạnh đó, ông cũng chiếm được sự trung thành tuyệt đối của quân sĩ dưới quyền.

Đối với bản thân, Julius Caesar cũng vô cùng khắt khe. Ông tập luyện và sinh hoạt như một chiến binh, ông có khả năng sử dụng kiếm và cưỡi ngựa xuất sắc cùng sức chịu đựng đáng kinh ngạc. Trên trận chiến, ông không phải là vị tướng đi sau hàng quân mà luôn luôn là người đi đầu dẫn dắt. Khi nhìn thấy vị chủ tướng vung kiếm hô vang lời xung kích, đội quân La Mã đã vùng lên như vũ bão, bất chấp lực lượng đối địch, bất chấp địa hình, thời tiết… và họ đã trở thành đội quân làm nên sự vĩ đại của đế chế La Mã.

(Đón đọc nội dung tiếp theo: Đế chế La Mã – Từ thành bang nô lệ trở thành đế chế không có điểm kết thúc – Kỳ II)