Báo Tiền Phong số 211

THỨ NĂM 30/7/2026 Số 211 0977.456.112 TRANG 7 HỘI NGHỊ QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐOÀN LẦN THỨ XIII “HỘ CHIẾU” TỶ USD VÀ KHOẢNG TRỐNG QUẢN LÝ XUẤT KHẨU SẦU RIÊNG: TRANG 4-5 Kiểm tra, phân loại sầu riêng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu ẢNH: SGGP CHUYỆN HÔM NAY Vụ khởi tố, bắt tạm giam một số cán bộ lãnh đạo trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật không chỉ gây chấn động ngành sầu riêng. Nhổ tận gốc giấy phép con XEM TIẾ P TRANG 5 n NGUYỄN TUẤN TRANG 7 “Thôn số” TRANG 8-9-10-11 TRANG 6 KIÊN QUYẾT LOẠI BỎ TƯ TƯỞNG "THUẬN CÁN BỘ, KHỔ NHÂN DÂN" Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương Ba khóa XIV ẢNH: NHƯ Ý TRANG 2-3 "Lợi ích nhóm" chi phối Mỗi thí sinh mang một Miền hương sắc TIẾNG CHUÔNG CHÙA Ở TRƯỜNG SA Lời thề với tiền nhân SƠ KHẢO HOA HẬU VIỆT NAM 2026 KHU VỰC MIỀN BẮC:

PHẢI VƯỢT QUA SỰ CHIA CẮT THEO ĐỊA GIỚI, NGÀNH, LĨNH VỰC, NHIỆM KỲ Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, Hội nghị Trung ương Ba đã thống nhất cao nhiều nội dung, quyết định nhiều chủ trương lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chúng ta đã thống nhất nhận thức: Triển khai phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm. Chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống; phải chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị tập trung quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt năm vấn đề. Đầu tiên, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cần thống nhất nhận thức, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, những điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa các quyết sách, bước chuyển chiến lược của Trung ương; hiểu đúng để hành động thống nhất. Điều cần nhận thức sâu sắc là các quyết sách của Trung ương là một hệ thống liên thông, gắn kết cùng hướng tới đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, quản trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Công tác xây dựng Đảng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ phải giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành; không gian phát triển, nguồn lực quốc gia phải được quản trị thống nhất, sử dụng hiệu quả; mô hình phát triển phải dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người, phải bám sát thực tiễn Việt Nam; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường phải chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Các nhiệm vụ đó là một thực thể hữu cơ; khâu nào chậm, yếu đều ảnh hưởng đến kết quả chung. Trong xây dựng Đảng, phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, giữa kỷ luật nghiêm minh và khuyến khích đổi mới. Thi hành Điều lệ Đảng phải tuyệt đối chấp hành Điều lệ, đúng thẩm quyền; vấn đề mới cần thí điểm phải rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và được tổng kết. Quy định về những điều đảng viên không được làm giúp nhận diện, ngăn chặn vi phạm, để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa; đồng thời bảo vệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Trong quản trị không gian và nguồn lực phát triển, phải vượt qua sự chia cắt theo địa giới, ngành, lĩnh vực, nhiệm kỳ; đặt mỗi địa phương, mỗi nguồn lực trong tổng thể liên kết vùng và lợi ích quốc gia. Hoàn thiện pháp luật đất đai phải giữ vững nguyên tắc sở hữu toàn dân, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là không gian sinh tồn và phát triển. Quản lý và sử dụng đất phải đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ. Nhà nước bảo đảm cải thiện chỗ ở, sinh kế của người có đất thu hồi. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế biển trong mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh. Phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến. “Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động; để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói. Thứ hai, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu khẩn trương cụ thể hóa đồng bộ các quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên và liên thông giữa các nhiệm vụ. Nghị quyết phải đi cùng chương trình hành động. Chương trình hành động phải mang hơi thở, nhịp sống, đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương, cơ sở để có thể thực thi hiệu quả. Mỗi chương trình phải rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Không hành chính hóa việc thực hiện; không lấy số lượng kế hoạch, hội nghị thay cho kết quả. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nhiệm vụ cùng mục tiêu, đối tượng, địa bàn phải được tích hợp; nội dung chồng chéo phải được xử lý; nguồn lực phải điều phối theo mục tiêu chung. Không để nhiều đầu mối cùng làm nhưng không có cơ quan chịu trách nhiệm đến cùng. Cần phân loại rõ công việc. Việc đã rõ chủ trương, đủ căn cứ và điều kiện phải thực hiện ngay. Việc cần thể chế hóa phải xác định cơ quan, thời hạn, sản phẩm cụ thể. Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải làm rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm, nguồn lực, cơ chế kiểm soát. Không lấy lý do chưa có tiền lệ để trì hoãn; cũng không nóng vội, duy ý chí. LOẠI BỎ TƯ TƯỞNG “THUẬN CÁN BỘ, KHỔ NHÂN DÂN” Về hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, Trung ương không đặt vấn đề sắp xếp, điều chỉnh lại địa giới hành chính cấp xã, vì cơ bản cả hệ thống đang hoạt động ổn định, hiệu quả. Tỉnh, thành phố nào thấy thật sự cần thiết phải điều chỉnh, căn cứ chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy hoạch, thực tiễn quản trị và nguyện vọng chính đáng của nhân dân thì đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, phương án đề xuất điều chỉnh địa giới hành chính phải khoa học, thận trọng, khả thi, tạo đồng 2 THỜI SỰ n Thứ Năm n Ngày 30/7/2026 Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương Ba khóa XIV do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức sáng 29/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị tập trung quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt 5 vấn đề. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương Ba khóa XIV ẢNH: NHƯ Ý Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế biển trong mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh. Phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến. “Tiến độ triển khai Nghị quyết phải được thiết kế trong từng nhiệm vụ. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải cơ bản thể chế hóa các quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới. Hướng tới năm 2030, năm 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh, khả năng thích ứng và sức chống chịu của đất nước”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM: QUAÛNG CAÙO PHAÙT HAØNH Haø Noäi: ÑT: (024)39432758; Fax: (024)39435285 TPHCM: ÑT: (028)38469860; Fax: (028)38480015 Trong giôø haønh chính (024)39439664 Ngoaøi giôø 0912033213 (Thu Hieàn) n Thieát keá : QUANG HUY n Giaù: 5.500 ñoàng n Ban ñaiï dienä taiï thanø h pho á Ho à Chí Minh: 384 Nam Kyø Khôiû Nghóa, P.Xuanâ Hoa-ø TPHCM. ÑT: (028) 3848 4366, E-mail: tienphonghcm@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï mienà Trung: 339 Leâ Thanh Nghò, P.Hoaø Cöônø g; 19 Ngoâ Gia Tö,ï P.Haiû Chauâ , TP Ña ø Nanü g, ÑT: (0236)3828 039, E-mail: banmientrung@baotienphong.com.vn n Ban ñaiï dienä taiï Bacé Trung Bo:ä 21 Ho à Xuanâ Höông, P.Thanø h Vinh, tænh Ngheä An. ÑT: (0238)8602345; Email: baotienphongbactrungbo@gmail.com. n Ban ñaiï dienä taiï ÑBSCL: 103 Tranà Vanê Hoaiø , P.Ninh Kieuà , TP Canà Thô. ÑT: (0292)3823823, Email: baotienphongdbscl@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Nguyenâ - Nam Trung Bo:ä 52 Tranà Nhatä Duatä , P.Buonâ Ma Thuotä , Ñaké Laké , ÑT: (0262)3950029, E-mail: baotienphongtaynguyen@gmail.com; 1018, ñöônø g 2/4, P. Bacé Nha Trang, tænh Khanù h Hoaø . SÑT: 0258.6500.155. Email: tienphongnhatrang@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Bacé Bo:ä 64 ñöônø g Ly ù Tö ï Tronï g, P.Yenâ Baiù , tænh Laoø Cai. ÑT: 0904938689, E-mail: vptaybacbotp@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Ñonâ g Bacé Bo:ä So á 18 Le â Thanh Nghò, P.Haï Long, tænh Quanû g Ninh; E-mail: bandongbac@baotienphong.com.vn n Toøa soaïn: 15 Hoà Xuaân Höông, P.Hai Baø Tröng vaø D29 Phaïm Vaên Baïch, P.Caàu Giaáy, Haø Noäi. ÑT: 3943 4031 - 38227525 E-Mail: toasoan@baotienphong.com.vn, ISSN 0866-0827 Website: www.tienphong.vn n Toång Bieân taäp: PHUØNG COÂNG SÖÔÛNG n Phoù Toång Bieân taäp: Nguyeãn Ngoïc Tieán, Traàn Thò Thu Haø n In taiï : Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 1, Cty in baoù Nhanâ Danâ Ña ø Nanü g, Cty TNHH MTV in Ñaé êkê Laké , Xöônû g in Quanâ khu IV, Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 2, TPHCM Việt Nam sẽ trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển ẢNH MINH HỌA: CẢNG BIỂN HẢI PHÒNG KIÊN QUYẾT LOẠI BỎ TƯ TƯỞNG "THUẬN CÁN BỘ, KHỔ NHÂN DÂN"

3 n Thứ Năm n Ngày 30/7/2026 THỜI SỰ thuận, phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và phục vụ nhân dân tốt hơn. Kiên quyết loại bỏ tư tưởng “thuận cán bộ, khổ nhân dân”. Ban thường vụ, Ban chấp hành tỉnh, thành ủy phải chịu trách nhiệm về đề xuất đó. Thứ ba, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, phải nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ các điều kiện thi hành để hệ thống chính trị vận hành thông suốt, tương tác hiệu quả. Sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu quả nhưng chất lượng chưa đồng đều, nhất là ở cơ sở. Mục tiêu hiện nay là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị, phục vụ nhân dân. Phải tiếp tục hoàn thiện chức năng, thẩm quyền, năng lực thực thi. Phải chuyển mạnh hơn nữa, nhanh hơn nữa từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo; từ xử lý phân tán sang quản trị tổng hợp dữ liệu; từ chờ hướng dẫn sang chủ động giải quyết, chịu trách nhiệm. Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan... “Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn và kiểm tra. Cấp tỉnh cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã hoạt động thông suốt. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp giải quyết mọi nhu cầu, công việc của người dân, doanh nghiệp; phải đủ năng lực quản trị sự phát triển. Phải tự trưởng thành qua tổ chức triển khai công việc”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói, đồng thời lưu ý, Trung ương phân quyền cho địa phương. Cấp tỉnh phân cấp những nhiệm vụ cấp xã có thể làm. Cấp xã phải nỗ lực đảm đương những nhiệm vụ được giao, không đẩy lên trên việc thuộc trách nhiệm của mình. Khi cấp xã thiếu điều kiện thực thi, cấp tỉnh phải chủ động tháo gỡ, nếu nội dung công việc vượt qua thẩm quyền thì báo cáo Trung ương xem xét. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, có cơ chế phối hợp rõ ràng, có nguồn dữ liệu dùng chung và kết quả phải đo, đếm được. Phân cấp, phân quyền phải đồng bộ với nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, được chia sẻ theo thẩm quyền; chấm dứt việc người dân phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có trong hệ thống. Hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm; không tạo thêm thủ tục, phần mềm, báo cáo hình thức. KỊP THỜI THAY THẾ, CHO TỪ CHỨC CÁN BỘ YẾU KÉM, NÉ TRÁNH, ĐÙN ĐẨY Thứ tư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm nêu gương và vai trò quyết định của người đứng đầu. Cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, không dám làm thì công việc vẫn trì trệ. Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công khai, công tâm, khách quan; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, uy tín trong Đảng, tín nhiệm trong nhân dân; lấy kết quả thực hiện nghị quyết làm căn cứ. Các cấp ủy, địa phương phải bố trí cán bộ đúng năng lực, chuyên môn, nhất là ở cấp xã và vị trí trực tiếp thực thi quyết sách; đào tạo theo vị trí việc làm. Kịp thời thay thế, cho từ chức cán bộ yếu kém, né tránh, đùn đẩy; trọng dụng, bảo vệ cán bộ liêm chính, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải phân biệt rõ cán bộ dám đổi mới với hành vi lợi dụng thí điểm, chính sách đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa, bao che sai phạm. “Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, điểm nghẽn kéo dài; kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp, nhân dân; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng. Không chỉ giao việc rồi chờ báo cáo; không nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi chậm trễ. Người lãnh đạo phải sâu sát thực tiễn, hiểu địa bàn, lĩnh vực phụ trách, kịp thời nhận diện và giải quyết vấn đề”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, cho rằng, mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên tự soi, tự sửa, nêu gương bằng kết quả cụ thể. Kỷ luật nghiêm minh không phải để cán bộ sợ trách nhiệm, mà để mỗi người biết rõ giới hạn, đúng vai, đúng thẩm quyền, yên tâm đổi mới, cống hiến. Thứ năm, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phải thiết lập kỷ luật thực thi nghiêm minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, thông tin, tuyên truyền và đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm, kết quả thực tế; lấy lợi ích và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cuối cùng. Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, trong suốt quá trình thực hiện, tập trung vào nơi có nguy cơ chậm tiến độ, khâu dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và vấn đề nhân dân quan tâm. Phải theo dõi, cảnh báo sớm, tháo gỡ kịp thời; không chờ đến khi nhiệm vụ chậm, nguồn lực bị lãng phí hoặc hậu quả phát sinh mới kiểm tra, xử lý. Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, bộ máy vận hành tốt hơn thế nào? Điểm nghẽn nào được tháo gỡ? Nguồn lực nào được khơi thông? Người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì? Một nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế. Kết quả phải là căn cứ đánh giá cán bộ; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; xử lý nghiêm biểu hiện né tránh, đùn đẩy, hình thức, trục lợi. TRƯỜNG PHONG - NHƯ Ý “Phải thường xuyên lắng nghe nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia, cán bộ cơ sở; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét đồng thời trách nhiệm thực hiện và bất cập của cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, cũng không lấy chính sách để bao biện cho yếu kém. Qua kiểm tra phải tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh cách làm, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ, Trung ương Đảng đã đề ra hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới mô hình phát triển đất nước cho giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130. Theo đó, đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước thu nhập trung bình cao, có công nghiệp hiện đại. Tạo được đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, hạ tầng năng lực tri thức quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; các mô hình thành phần được hình thành đồng bộ. Đến năm 2045, Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập và các mô hình thành phần được vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa. Kinh tế phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xanh, tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng… Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại. Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ: Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kinh tế, gồm 12 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, bao quát toàn diện từ xác lập mô hình tăng trưởng mới, đến tổ chức lại không gian phát triển; xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; phát triển các thị trường nhân tố sản xuất, phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh; cải cách sâu rộng hệ thống tài chính, nâng hạng tín nhiệm quốc gia, thị trường chứng khoán; đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia... T.PHONG Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương Ba khóa XIV, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề về Đổ i mớ i mô hình phá t triể n Việ t Nam. Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị ẢNH: NHƯ Ý Xác lập mô hình tăng trưởng mới Không tư nhân hóa đất đai Về quan điểm, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh, nghị quyết khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; tuyệt đối không được tư nhân hóa về đất đai và không cho phép người nước ngoài nhận chuyển nhượng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức (trừ trường hợp là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài). Nhà nước thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách và thực hiện điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra… Việc phân bổ giá trị đất đai phải bảo đảm công bằng, hiệu quả, tránh lãng phí. Về quyền sử dụng đất: quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất khi đưa vào sử dụng, không để hình thành cơ chế nhiều giá. Nghị quyết cũng chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”, người có đất ở bị thu hồi phải có chỗ ở, điều kiện sống ngang bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Nhà nước tạo điều kiện để công dân có quyền có nơi ở; ưu tiên dành quỹ đất để phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng yêu cầu chỗ ở của nhân dân. Về mục tiêu, nghị quyết xác định phải làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, nguồn lực nội sinh, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Cụ thể, xây dựng Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo hướng tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thuế, quy hoạch, bất động sản và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; đảm bảo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. T.PHONG Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ẢNH: NHƯ Ý Sáng 29/7, tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương Ba khóa XIV, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã trình bày Nghị quyết về quan điểm, định hướng sửa đổi luật Đất đai và các luật có liên quan.

4 n Thứ Năm n Ngày 30/7/2026 KINH TẾ KHUẤT TẤT TRONG QUẢN LÝ MÃ SỐ VÙNG TRỒNG Theo thông tin Bộ Công an công bố ngày 28/7, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) đã khởi tố, bắt tạm giam Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung cùng nhiều cán bộ, doanh nghiệp để điều tra các hành vi nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Cơ quan điều tra đồng thời xác định các bị can có dấu hiệu ban hành chính sách trái pháp luật, tạo "giấy phép con", can thiệp việc cấp khống giấy kiểm nghiệm, mã số vùng trồng và mua bán trái phép mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho biết những dấu hiệu bất thường về vấn đề gian lận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã xuất hiện ngay từ khi sầu riêng bắt đầu được xuất khẩu chính ngạch. Năm 2022, diện tích sầu riêng được phía Trung Quốc phê duyệt mới khoảng 3.000 ha, tương ứng sản lượng khoảng 68.000 tấn/ năm, trong khi lượng hàng doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu có thời điểm lên tới 1,3 triệu tấn. Khoảng cách quá lớn giữa năng lực vùng trồng được cấp mã và lượng hàng đăng ký xuất khẩu đã làm dấy lên nghi vấn sử dụng mã số không đúng nguồn gốc. Theo ông Nguyên, ngay trong giai đoạn 2022-2023, khi xuất khẩu sầu riêng tăng trưởng nóng, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đã nhiều lần nhận được phản ánh của doanh nghiệp về tình trạng thuê, mượn hoặc mua bán mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Hiện tượng này xuất hiện khi một số doanh nghiệp có sản lượng nhưng chưa được cấp mã, trong khi nơi khác có mã số nhưng không sử dụng hết. “Có nơi dư mã số nhưng thiếu hàng, có nơi có hàng lại thiếu mã số. Khi đó xuất hiện đủ các hình thức thuê, mượn hoặc chuyển quyền sử dụng mã số để hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu”, ông Nguyên nói. Theo phản ánh từ doanh nghiệp mà phóng viên Tiền Phong từng nhận được, có thời điểm chi phí để hoàn thiện một bộ hồ sơ xuất khẩu lên tới hàng trăm triệu đồng/container, gồm mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và giấy kiểm nghiệm. Trong đó, mỗi mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói từng được giao dịch khoảng 120 triệu đồng; giấy kiểm nghiệm cũng ở mức tương tự, khiến tổng chi phí ngoài luồng có thể lên tới 300-360 triệu đồng/ container. Không chỉ phát sinh giao dịch mua bán mã số, quy trình xử lý hồ sơ cấp mã cũng bộc lộ nhiều bất cập. Trước đây, sau khi được cơ quan chuyên môn địa phương kiểm tra, hồ sơ đều tập trung về Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) để thẩm định trước khi chuyển sang Tổng cục Hải quan Trung Quốc xem xét phê duyệt. Trong khi đó, doanh nghiệp hầu như không thể theo dõi hồ sơ đang được xử lý đến đâu, thời điểm chuyển sang phía Trung Quốc hay lý do hồ sơ của đơn vị này được giải quyết trước đơn vị khác. “Nếu toàn bộ tiến độ xử lý không được công khai thì rất dễ hình thành sự khan hiếm giả tạo của mã số và phát sinh cơ chế xincho”, ông Nguyên nhận định. Không chỉ khâu cấp mã, công tác hậu kiểm sau khi được phê duyệt cũng bộc lộ nhiều khoảng trống. Trong khi việc thẩm định chủ yếu diễn ra ở thời điểm cấp mã, điều quan trọng hơn là vùng trồng và cơ sở đóng gói phải duy trì đầy đủ các điều kiện trong suốt quá trình sản xuất, thu mua và xuất khẩu. Đến tháng 5/2025, Việt Nam có 1.396 mã số vùng trồng và 188 mã số cơ sở đóng gói được phía Trung Quốc phê duyệt. Tuy nhiên, chỉ từ năm 2025 đến tháng 5/2026 đã có 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói bị phía Trung Quốc cảnh báo không tuân thủ quy định. Khi dữ liệu giữa vùng trồng, cơ sở đóng gói, phòng thử nghiệm và cơ quan quản lý chưa được kết nối, việc phát hiện một mã số xuất lượng hàng vượt quá năng lực thực tế, cơ sở đóng gói thu mua ngoài vùng đăng ký hay một mã số được sử dụng cho nhiều lô hàng vẫn chủ yếu dựa vào kiểm tra thủ công hoặc cảnh báo từ phía nước nhập khẩu. LÁ CHẮN CUỐI CÙNG BỊ XUYÊN THỦNG Nếu mã số vùng trồng được ví như “hộ chiếu” thì kiểm nghiệm là “chốt chặn” cuối cùng trước khi lô sầu riêng được xuất khẩu. Do đó, chỉ kiểm soát ở khâu cuối là chưa đủ bởi một container thường được thu gom từ nhiều nhà vườn, nhiều vùng nguyên liệu khác nhau. Theo ông Nguyên, việc lấy một số mẫu đại diện chưa chắc phản ánh đúng chất lượng của cả lô hàng. Nếu khâu lấy mẫu, niêm phong và giám sát thiếu chặt chẽ, hàng vẫn có thể vượt qua phòng thử nghiệm trong nước nhưng bị phía Trung Quốc phát hiện vi phạm. “Tại Thái Lan, việc kiểm soát được thực hiện ngay từ vùng trồng, các vườn đăng ký xuất khẩu đều được lấy mẫu, đánh giá trước khi thu hoạch. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam thu mua từ nhiều nhà vườn rồi mới lấy mẫu kiểm nghiệm. Khi lô hàng không đạt yêu cầu, doanh nghiệp phải gánh toàn bộ chi phí thu mua, đóng gói, vận chuyển, thậm chí mất luôn thị trường”, ông Nguyên nói. Sau khi Trung Quốc siết chặt kiểm soát cadimi và vàng O, các phòng thử nghiệm trong nước cũng thận trọng hơn trong việc trả kết quả. Nếu kết quả của Việt Nam không trùng khớp với kết quả kiểm tra của phía Trung Quốc, phòng thử nghiệm có thể bị đình chỉ hoặc loại khỏi danh sách được công nhận. Đến cuối tháng 6 năm nay, Việt Nam có 30 phòng thử nghiệm được phía Trung Quốc công nhận xét nghiệm cadimi, 31 phòng xét nghiệm vàng O và 37 cơ sở đủ điều kiện thực hiện một hoặc cả hai chỉ tiêu. DƯƠNG HƯNG Ông Trần Tr. - đại diện pháp luật của một doanh nghiệp (DN) kinh doanh nông sản ở Đắk Lắk - bức xúc, công ty đã thu mua, xuất khẩu (XK) sầu riêng đi Trung Quốc gần 3 năm nay, nhưng tới nay vẫn chưa làm được mã số vùng trồng (MSVT), mã cơ sở đóng gói (MCSĐG) nào ở Đắk Lắk. “Chúng tôi không thể tự đi làm MSVT sầu riêng được. Chỉ có một nhóm người ngoài Bắc làm được việc này. Đến nay công ty vẫn chưa thể làm được MSVT, MCSĐG ở Đắk Lắk. Nếu có 2 loại mã này, 1 năm công ty có thể XK 1.500-2.000 container sầu riêng. Vì không có mã nên DN chỉ có thể XK qua 1 MSVT, MCSĐG bên Lâm Đồng, còn ở Đắk Lắk phải XK qua uỷ quyền, không khác nào một loại giấy phép con nữa”, ông Tr. bức xúc. Theo ông Tr., giấy phép con ở đây chủ yếu là MSVT, MCSĐG. Bên cạnh đó là các loại giấy tờ kiểm định, kiểm dịch. Cách đây 3-4 tháng, để làm được các giấy kiểm định, kiểm dịch này rất khó, giờ nhiều cơ sở được mở nên thuận lợi cho DN hơn. “Đợt này làm giấy kiểm định chỉ mất 20-30 triệu đồng, trước đó tận 70-100 triệu đồng. Doanh nghiệp ở Đắk Lắk phải đi các tỉnh xa ở miền Tây, TPHCM hoặc Hà Nội làm”, ông Tr. nói. Trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, một đại diện Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk nói rằng, “giấy phép con” ở đây là họ thắt chặt hoạt động kiểm dịch, cấp mã vùng trồng, cấp phép các phòng kiểm nghiệm, dẫn tới khan hiếm, từ đó tạo ra cơ chế xin - cho, “làm luật”. Cả nước hiện có hơn 50 phòng kiểm nghiệm, đảm bảo cạnh tranh, nhưng trước đây chỉ có hơn 10 phòng. Đại diện một DN đóng gói, XK sầu riêng ở Lâm Đồng cho biết, chi phí XK hiện tăng rất cao, khiến nhiều DN không dám mạo hiểm thu mua. Theo vị này, mỗi chuyến hàng XK thường từ 3-6 container, mỗi container chứa khoảng 18 tấn sầu riêng. Chỉ cần một lô hàng không đạt yêu cầu hoặc gặp rủi ro, DN có thể thiệt hại từ 450-500 triệu đồng, chưa kể chi phí vận chuyển và các khoản phát sinh khác. “Chi phí xét nghiệm thông thường khoảng 5-6 triệu đồng/ mẫu. Tuy nhiên, muốn phía Trung Quốc chắc chắn lấy hàng thì tổng chi phí kiểm định có thể lên tới 90-100 triệu đồng. Với mức chi phí và rủi ro như hiện nay, gần như không DN nào dám đánh đổi để làm”, vị đại diện nói. TUẤN NGUYỄN - THÁI LÂM “Hộ chiếu” tỷ USD và khoảng trống quản lý Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam - cho biết những dấu hiệu bất thường về vấn đề gian lận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã xuất hiện ngay từ khi sầu riêng bắt đầu được xuất khẩu chính ngạch. Tình trạng mua bán, gian lận mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói từng diễn ra rất nhức nhối trên thị trường xuất khẩu sầu riêng Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, giải pháp để ngành hàng tỷ USD của Việt Nam khắc phục những bất cập hiện nay là sớm mở rộng năng lực xét nghiệm, đồng thời cần số hóa toàn bộ quy trình từ cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến lấy mẫu, trả kết quả kiểm nghiệm và kết nối dữ liệu với hải quan. Khi toàn bộ chuỗi được quản lý trên cùng một nền tảng, cơ quan chức năng không chỉ phát hiện sớm các dấu hiệu gian lận mà còn thu hẹp khoảng trống cho cơ chế xin-cho, tình trạng mua bán mã số hay hợp thức hóa giấy kiểm nghiệm. "Lợi ích nhóm" chi phối Theo chia sẻ của một số doanh nghiệp, “giấy phép con” để xuất khẩu sầu riêng chủ yếu liên quan mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và các loại giấy tờ kiểm định. XUẤT KHẨU SẦU RIÊNG: Một thùng hàng sầu riêng xuất khẩu đi Trung Quốc

Trao đổi với phóng viên, ông P.V.T (đại diện một tổ hợp tác sầu riêng ở tỉnh Vĩnh Long) cho biết, tổ hợp tác có 44 hộ thành viên với tổng diện tích 25ha trồng sầu riêng. Vài năm gần đây, giá sầu riêng giảm rất sâu, nhất là vụ chính năm nay chỉ còn hơn 20.000-30.000 đồng/ kg, người trồng sầu riêng hoàn toàn không có lãi. Thêm vào đó là những tin không vui về tình trạng sầu riêng nhiễm chất cấm như cadimi hay vàng O; mã số vùng trồng bị gian lận… Theo ông T, tổ hợp tác của ông được cấp MSVT được 2 năm. Để được cấp MSVT cũng phải qua nhiều thủ tục khá phức tạp, tuân thủ nhiều nguyên tắc nghiêm ngặt, gồm cả việc phía đối tác Trung Quốc phỏng vấn, kiểm định trực tiếp rồi mới xem xét cấp mã số. Đồng thời, phải chịu kiểm tra định kỳ, nếu vùng trồng phát hiện bị nhiễm sinh vật hại hay dư lượng hóa chất, kim loại nặng thì mã số sẽ bị thu hồi. Ông T cho biết, doanh nghiệp thu mua xuất khẩu ký hợp đồng thu mua với tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) thường cũng theo thời vụ, có MSVT hợp lệ. Tuy nhiên, vẫn có tình trạng doanh nghiệp sau đó lại dùng chính mã số này để đi thu mua sầu riêng ở các nơi khác trà trộn vào. Theo các HTX, tổ hợp tác, việc quản lý MSVT do cơ quan chức năng thực hiện, còn nông dân cũng như ban quản lý HTX không có công cụ hay thẩm quyền để kiểm soát việc doanh nghiệp đem mã số đi sử dụng nơi khác. “Họ đem mã số đi thu mua ở đâu thì bà con chúng tôi không biết được, nhưng nếu sầu riêng đó bị phát hiện nhiễm chất cấm, dư lượng hóa chất thì bên nhập khẩu họ đình chỉ, rồi thu hồi MSVT, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của HTX và bà con thành viên được cấp mã số” - đại diện một HTX sầu riêng ở Vĩnh Long cho hay. Quy trình cấp MSVT gồm 5 bước, từ cấp xã tiếp nhận đơn đề nghị, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (TT&BVTV) kiểm tra thực tế vùng trồng, có văn bản gửi Cục TT&BVTV, rồi Cục TT&BVTV gửi danh sách cho các nước nhập khẩu để được phê duyệt hoặc cấp mã số. Sau khi nhận được thông tin phê duyệt hoặc mã số được cấp của nước nhập khẩu, Cục TT&BVTV thông báo cho cơ quan chuyên môn địa phương và đề nghị phải thông báo cho chủ sở hữu hoặc người đại diện vùng trồng, cơ sở đóng gói, đồng thời giám sát việc đảm bảo tuân thủ yêu cầu của nước nhập khẩu… Quy trình nhiều bước, nghiêm ngặt là vậy, nhưng việc kiểm soát còn hạn chế. Theo các HTX, bà con canh tác theo quy trình hướng dẫn của cơ quan chức năng, nhưng việc kiểm soát thực tế sử dụng phân thuốc của từng hộ vẫn còn nhiều khó khăn. Việc kiểm tra chất lượng tại vườn trước khi mua hầu như chưa được quan tâm bài bản, chủ yếu phụ thuộc thương lái… ĐÃ BỊT KẼ HỞ Ông Võ Tấn Lợi - Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp cho hay, ngành hàng sầu riêng bắt đầu xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc năm 2022, điều kiện để xuất khẩu là phải có MSVT và mã số đóng gói được phía Trung Quốc công nhận. Theo ông Lợi, giai đoạn đầu, kẽ hở pháp lý rất lớn. “Nếu doanh nghiệp của tôi có MSVT và mã số đóng gói, tôi cứ gắn mã đó vào container để xuất đi. Phía Trung Quốc kiểm tra trên hệ thống thấy có mã số là cho thông quan. Tại Việt Nam thời điểm đó chưa quản lý chặt được việc này. Các doanh nghiệp khác thấy MSVT của tôi đang dùng liền lấy mã đó gắn vào container của họ để xuất sang bên kia và vẫn thông quan bình thường. Đó chính là kẽ hở dẫn đến sai phạm” - ông Lợi kể. Ngoài ra, có những người đến ký hợp đồng vài container, doanh nghiệp từ Lạng Sơn vào làm dịch vụ, ký đại diện 1-2 mã. Khi thấy làm được, họ tốn một chút chi phí cho HTX hoặc doanh nghiệp sở hữu mã số. Sau đó, nhiều người thấy tốn tiền nên lấy luôn mã và tên của người khác để làm con dấu giả, hồ sơ giả xuất đi luôn. Theo ông Lợi, tình trạng này diễn ra rất nhiều, Hiệp hội của ông từng nhận phản ánh: “Trời ơi, tôi không xuất container nào mà mã của tôi bị đóng, bị báo vi phạm rồi biết kiện ai”. Có những mã vùng trồng quy định sản lượng chỉ 500 tấn, nhưng thực tế xuất đi tới 700-800 tấn vì bị lợi dụng dùng chung mã từ nhiều vùng trồng khác nhau. Sau này sự việc mới dần được làm sáng tỏ. Ông Lợi cho rằng, tình hình hiện nay đã được kiểm soát. Một MSVT có diện tích 30ha do HTX đứng tên; khi doanh nghiệp liên kết, HTX sẽ làm giấy ủy quyền cho doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp nhận ủy quyền mới được xuất khẩu và không được ủy quyền lại cho bên thứ ba. Nếu doanh nghiệp không xuất nữa phải trả quyền lại cho HTX để ủy quyền cho bên khác. Dữ liệu ủy quyền này được cập nhật trực tiếp lên hệ thống của Chi cục TT&BVTV cấp tỉnh. Bên nào sai phạm là hệ thống phát hiện và xử lý ngay. Khi xuất vườn, doanh nghiệp phải ghi rõ số lượng thu hoạch và xuất đi là bao nhiêu để kiểm soát sản lượng. Theo đại diện Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp, trước đây làm mã vùng trồng tốn chi phí hơn bây giờ. Doanh nghiệp phải xuống địa phương, phối hợp với xã, HTX và Đoàn thanh niên đi đến từng hộ dân đo đạc tọa độ (vì doanh nghiệp không biết hộ dân ở đâu). Doanh nghiệp phải hỗ trợ chi phí bồi dưỡng cho lực lượng đi làm (vài trăm nghìn đồng/ngày), hỗ trợ chi phí cho từng hộ dân tính theo diện tích (hécta). Hiện nay, quy trình nhanh hơn nhiều, nếu hồ sơ đạt yêu cầu, trong vòng 1 tuần sẽ được cấp ngay, không còn tình trạng ngâm hồ sơ hay tiêu cực như trước… CẢNH KỲ 5 KINH TẾ n Thứ Năm n Ngày 30/7/2026 Doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua sầu riêng với tổ hợp tác, hợp tác xã để có mã số vùng trồng (MSVT) hợp lệ. Tuy nhiên, vẫn có tình trạng doanh nghiệp sau đó lại thu gom sầu riêng từ nơi khác rồi dùng chính mã số vùng trồng không cùng nơi để đưa vào cùng lô xuất khẩu. Mã số vùng trồng bị lợi dụng thế nào? Thu hoạch sầu riêng ở ĐBSCL CHUYỆN HÔM NAY Điều khiến cộng đồng doanh nghiệp day dứt hơn cả là những lời chia sẻ sau đó: muốn xuất khẩu phải có mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, giấy kiểm định; nhưng để có những “tấm vé thông hành” ấy, nhiều doanh nghiệp buộc phải đi đường vòng, thậm chí phải tìm đến những “đầu mối” có khả năng lo liệu. Nếu đúng như những gì cơ quan điều tra làm rõ, đây không đơn thuần là câu chuyện của một vài cán bộ tha hóa, mà còn gióng lên hồi chuông về một căn bệnh đã tồn tại từ lâu: “giấy phép con” và cơ chế xin - cho. Doanh nghiệp chưa bao giờ phản đối việc quản lý chặt chẽ. Với những mặt hàng xuất khẩu như sầu riêng, việc kiểm soát mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói hay kiểm dịch là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm chất lượng và uy tín hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Vấn đề nằm ở chỗ, khi một thủ tục hành chính trở thành "nút thắt" mà chỉ một số ít người có quyền tháo gỡ, thì quyền lực rất dễ bị biến thành đặc quyền. Thực tế cho thấy, điều doanh nghiệp sợ nhất không phải là quy định nghiêm, mà là quy định thiếu minh bạch, thời gian giải quyết kéo dài và việc áp dụng tùy thuộc vào ý chí của người có thẩm quyền. Khi hàng nghìn tấn nông sản đứng trước nguy cơ lỡ mùa, khi mỗi ngày chậm thông quan đều đồng nghĩa với hàng trăm triệu đồng thiệt hại, không ít doanh nghiệp buộc phải chấp nhận những "chi phí ngoài luồng" chỉ để hồ sơ được đi nhanh hơn. Đó chính là mảnh đất để tiêu cực nảy sinh. Một nền hành chính hiện đại không thể để doanh nghiệp phải đi tìm "quan hệ" thay vì tìm hiểu quy định. Cũng không thể để người làm ăn chân chính phải cạnh tranh với những người giỏi "chạy thủ tục" hơn là giỏi sản xuất, kinh doanh. Khi quyền được cấp hay không cấp phụ thuộc quá nhiều vào một vài cá nhân, nguy cơ lợi ích nhóm và tham nhũng gần như là điều khó tránh khỏi. Điều đáng nói, thiệt hại không chỉ dừng ở doanh nghiệp. Mỗi khoản chi phí bất hợp lý cuối cùng đều được cộng vào giá thành sản phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Trong bối cảnh sầu riêng đang là ngành hàng xuất khẩu tỷ USD, bất kỳ "nút thắt" nào trong khâu quản lý cũng có thể khiến cả chuỗi sản xuất, từ người nông dân đến doanh nghiệp, phải gánh hậu quả. Vì thế, xử lý nghiêm các cá nhân sai phạm mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là phải rà soát toàn bộ quy trình cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, kiểm định và kiểm dịch theo hướng công khai, minh bạch, số hóa toàn diện, rút ngắn thời gian xử lý và xóa bỏ mọi khoảng trống có thể phát sinh cơ chế xin - cho. Mỗi hồ sơ phải được theo dõi trên hệ thống điện tử, có thời hạn giải quyết rõ ràng và trách nhiệm giải trình cụ thể. Khi mọi thủ tục đều được "đặt dưới ánh sáng", cơ hội cho những "đường vòng" cũng sẽ dần bị triệt tiêu. Nhiều năm qua, Chính phủ đã kiên trì cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và xóa bỏ hàng nghìn "giấy phép con". Những kết quả ấy không thể bị phủ nhận chỉ bởi một vài vụ việc tiêu cực. Ngược lại, vụ án lần này càng cho thấy quyết tâm làm trong sạch bộ máy và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch phải được thực hiện mạnh mẽ hơn. Một nền kinh tế muốn phát triển không thể để doanh nghiệp mất thời gian xin phép nhiều hơn sáng tạo, càng không thể để quyền lực hành chính trở thành "mảnh đất" để trục lợi. Nhổ tận gốc "giấy phép con" không chỉ là cải cách thủ tục hành chính, mà còn là cách hữu hiệu nhất để nhổ tận gốc cơ chế xin - cho và những mầm mống tham nhũng. N.T Nhổ tận gốc giấy phép con TIẾP THEO TRANG 1 Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long cho biết, diện tích trồng mới sầu riêng tăng nhanh và tự phát, mở rộng tại các vùng không phù hợp dẫn đến rủi ro về năng suất, chất lượng. Về kiểm soát dư lượng chất cấm, nông dân còn nhiều lúng túng trong việc quản lý kim loại nặng (cadimi) từ đất, phân bón đến các chất làm đẹp trái như vàng O. Một hạn chế lớn là chuỗi liên kết lỏng lẻo, tình trạng tranh mua, tranh bán, “bẻ cọc”, bỏ hợp đồng khi giá biến động; liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp thiếu bền vững, dễ đứt gãy…

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==