Báo Tiền Phong số 211

Trao đổi với phóng viên, ông P.V.T (đại diện một tổ hợp tác sầu riêng ở tỉnh Vĩnh Long) cho biết, tổ hợp tác có 44 hộ thành viên với tổng diện tích 25ha trồng sầu riêng. Vài năm gần đây, giá sầu riêng giảm rất sâu, nhất là vụ chính năm nay chỉ còn hơn 20.000-30.000 đồng/ kg, người trồng sầu riêng hoàn toàn không có lãi. Thêm vào đó là những tin không vui về tình trạng sầu riêng nhiễm chất cấm như cadimi hay vàng O; mã số vùng trồng bị gian lận… Theo ông T, tổ hợp tác của ông được cấp MSVT được 2 năm. Để được cấp MSVT cũng phải qua nhiều thủ tục khá phức tạp, tuân thủ nhiều nguyên tắc nghiêm ngặt, gồm cả việc phía đối tác Trung Quốc phỏng vấn, kiểm định trực tiếp rồi mới xem xét cấp mã số. Đồng thời, phải chịu kiểm tra định kỳ, nếu vùng trồng phát hiện bị nhiễm sinh vật hại hay dư lượng hóa chất, kim loại nặng thì mã số sẽ bị thu hồi. Ông T cho biết, doanh nghiệp thu mua xuất khẩu ký hợp đồng thu mua với tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) thường cũng theo thời vụ, có MSVT hợp lệ. Tuy nhiên, vẫn có tình trạng doanh nghiệp sau đó lại dùng chính mã số này để đi thu mua sầu riêng ở các nơi khác trà trộn vào. Theo các HTX, tổ hợp tác, việc quản lý MSVT do cơ quan chức năng thực hiện, còn nông dân cũng như ban quản lý HTX không có công cụ hay thẩm quyền để kiểm soát việc doanh nghiệp đem mã số đi sử dụng nơi khác. “Họ đem mã số đi thu mua ở đâu thì bà con chúng tôi không biết được, nhưng nếu sầu riêng đó bị phát hiện nhiễm chất cấm, dư lượng hóa chất thì bên nhập khẩu họ đình chỉ, rồi thu hồi MSVT, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của HTX và bà con thành viên được cấp mã số” - đại diện một HTX sầu riêng ở Vĩnh Long cho hay. Quy trình cấp MSVT gồm 5 bước, từ cấp xã tiếp nhận đơn đề nghị, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (TT&BVTV) kiểm tra thực tế vùng trồng, có văn bản gửi Cục TT&BVTV, rồi Cục TT&BVTV gửi danh sách cho các nước nhập khẩu để được phê duyệt hoặc cấp mã số. Sau khi nhận được thông tin phê duyệt hoặc mã số được cấp của nước nhập khẩu, Cục TT&BVTV thông báo cho cơ quan chuyên môn địa phương và đề nghị phải thông báo cho chủ sở hữu hoặc người đại diện vùng trồng, cơ sở đóng gói, đồng thời giám sát việc đảm bảo tuân thủ yêu cầu của nước nhập khẩu… Quy trình nhiều bước, nghiêm ngặt là vậy, nhưng việc kiểm soát còn hạn chế. Theo các HTX, bà con canh tác theo quy trình hướng dẫn của cơ quan chức năng, nhưng việc kiểm soát thực tế sử dụng phân thuốc của từng hộ vẫn còn nhiều khó khăn. Việc kiểm tra chất lượng tại vườn trước khi mua hầu như chưa được quan tâm bài bản, chủ yếu phụ thuộc thương lái… ĐÃ BỊT KẼ HỞ Ông Võ Tấn Lợi - Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp cho hay, ngành hàng sầu riêng bắt đầu xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc năm 2022, điều kiện để xuất khẩu là phải có MSVT và mã số đóng gói được phía Trung Quốc công nhận. Theo ông Lợi, giai đoạn đầu, kẽ hở pháp lý rất lớn. “Nếu doanh nghiệp của tôi có MSVT và mã số đóng gói, tôi cứ gắn mã đó vào container để xuất đi. Phía Trung Quốc kiểm tra trên hệ thống thấy có mã số là cho thông quan. Tại Việt Nam thời điểm đó chưa quản lý chặt được việc này. Các doanh nghiệp khác thấy MSVT của tôi đang dùng liền lấy mã đó gắn vào container của họ để xuất sang bên kia và vẫn thông quan bình thường. Đó chính là kẽ hở dẫn đến sai phạm” - ông Lợi kể. Ngoài ra, có những người đến ký hợp đồng vài container, doanh nghiệp từ Lạng Sơn vào làm dịch vụ, ký đại diện 1-2 mã. Khi thấy làm được, họ tốn một chút chi phí cho HTX hoặc doanh nghiệp sở hữu mã số. Sau đó, nhiều người thấy tốn tiền nên lấy luôn mã và tên của người khác để làm con dấu giả, hồ sơ giả xuất đi luôn. Theo ông Lợi, tình trạng này diễn ra rất nhiều, Hiệp hội của ông từng nhận phản ánh: “Trời ơi, tôi không xuất container nào mà mã của tôi bị đóng, bị báo vi phạm rồi biết kiện ai”. Có những mã vùng trồng quy định sản lượng chỉ 500 tấn, nhưng thực tế xuất đi tới 700-800 tấn vì bị lợi dụng dùng chung mã từ nhiều vùng trồng khác nhau. Sau này sự việc mới dần được làm sáng tỏ. Ông Lợi cho rằng, tình hình hiện nay đã được kiểm soát. Một MSVT có diện tích 30ha do HTX đứng tên; khi doanh nghiệp liên kết, HTX sẽ làm giấy ủy quyền cho doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp nhận ủy quyền mới được xuất khẩu và không được ủy quyền lại cho bên thứ ba. Nếu doanh nghiệp không xuất nữa phải trả quyền lại cho HTX để ủy quyền cho bên khác. Dữ liệu ủy quyền này được cập nhật trực tiếp lên hệ thống của Chi cục TT&BVTV cấp tỉnh. Bên nào sai phạm là hệ thống phát hiện và xử lý ngay. Khi xuất vườn, doanh nghiệp phải ghi rõ số lượng thu hoạch và xuất đi là bao nhiêu để kiểm soát sản lượng. Theo đại diện Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp, trước đây làm mã vùng trồng tốn chi phí hơn bây giờ. Doanh nghiệp phải xuống địa phương, phối hợp với xã, HTX và Đoàn thanh niên đi đến từng hộ dân đo đạc tọa độ (vì doanh nghiệp không biết hộ dân ở đâu). Doanh nghiệp phải hỗ trợ chi phí bồi dưỡng cho lực lượng đi làm (vài trăm nghìn đồng/ngày), hỗ trợ chi phí cho từng hộ dân tính theo diện tích (hécta). Hiện nay, quy trình nhanh hơn nhiều, nếu hồ sơ đạt yêu cầu, trong vòng 1 tuần sẽ được cấp ngay, không còn tình trạng ngâm hồ sơ hay tiêu cực như trước… CẢNH KỲ 5 KINH TẾ n Thứ Năm n Ngày 30/7/2026 Doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua sầu riêng với tổ hợp tác, hợp tác xã để có mã số vùng trồng (MSVT) hợp lệ. Tuy nhiên, vẫn có tình trạng doanh nghiệp sau đó lại thu gom sầu riêng từ nơi khác rồi dùng chính mã số vùng trồng không cùng nơi để đưa vào cùng lô xuất khẩu. Mã số vùng trồng bị lợi dụng thế nào? Thu hoạch sầu riêng ở ĐBSCL CHUYỆN HÔM NAY Điều khiến cộng đồng doanh nghiệp day dứt hơn cả là những lời chia sẻ sau đó: muốn xuất khẩu phải có mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, giấy kiểm định; nhưng để có những “tấm vé thông hành” ấy, nhiều doanh nghiệp buộc phải đi đường vòng, thậm chí phải tìm đến những “đầu mối” có khả năng lo liệu. Nếu đúng như những gì cơ quan điều tra làm rõ, đây không đơn thuần là câu chuyện của một vài cán bộ tha hóa, mà còn gióng lên hồi chuông về một căn bệnh đã tồn tại từ lâu: “giấy phép con” và cơ chế xin - cho. Doanh nghiệp chưa bao giờ phản đối việc quản lý chặt chẽ. Với những mặt hàng xuất khẩu như sầu riêng, việc kiểm soát mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói hay kiểm dịch là yêu cầu bắt buộc để bảo đảm chất lượng và uy tín hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Vấn đề nằm ở chỗ, khi một thủ tục hành chính trở thành "nút thắt" mà chỉ một số ít người có quyền tháo gỡ, thì quyền lực rất dễ bị biến thành đặc quyền. Thực tế cho thấy, điều doanh nghiệp sợ nhất không phải là quy định nghiêm, mà là quy định thiếu minh bạch, thời gian giải quyết kéo dài và việc áp dụng tùy thuộc vào ý chí của người có thẩm quyền. Khi hàng nghìn tấn nông sản đứng trước nguy cơ lỡ mùa, khi mỗi ngày chậm thông quan đều đồng nghĩa với hàng trăm triệu đồng thiệt hại, không ít doanh nghiệp buộc phải chấp nhận những "chi phí ngoài luồng" chỉ để hồ sơ được đi nhanh hơn. Đó chính là mảnh đất để tiêu cực nảy sinh. Một nền hành chính hiện đại không thể để doanh nghiệp phải đi tìm "quan hệ" thay vì tìm hiểu quy định. Cũng không thể để người làm ăn chân chính phải cạnh tranh với những người giỏi "chạy thủ tục" hơn là giỏi sản xuất, kinh doanh. Khi quyền được cấp hay không cấp phụ thuộc quá nhiều vào một vài cá nhân, nguy cơ lợi ích nhóm và tham nhũng gần như là điều khó tránh khỏi. Điều đáng nói, thiệt hại không chỉ dừng ở doanh nghiệp. Mỗi khoản chi phí bất hợp lý cuối cùng đều được cộng vào giá thành sản phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Trong bối cảnh sầu riêng đang là ngành hàng xuất khẩu tỷ USD, bất kỳ "nút thắt" nào trong khâu quản lý cũng có thể khiến cả chuỗi sản xuất, từ người nông dân đến doanh nghiệp, phải gánh hậu quả. Vì thế, xử lý nghiêm các cá nhân sai phạm mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là phải rà soát toàn bộ quy trình cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, kiểm định và kiểm dịch theo hướng công khai, minh bạch, số hóa toàn diện, rút ngắn thời gian xử lý và xóa bỏ mọi khoảng trống có thể phát sinh cơ chế xin - cho. Mỗi hồ sơ phải được theo dõi trên hệ thống điện tử, có thời hạn giải quyết rõ ràng và trách nhiệm giải trình cụ thể. Khi mọi thủ tục đều được "đặt dưới ánh sáng", cơ hội cho những "đường vòng" cũng sẽ dần bị triệt tiêu. Nhiều năm qua, Chính phủ đã kiên trì cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và xóa bỏ hàng nghìn "giấy phép con". Những kết quả ấy không thể bị phủ nhận chỉ bởi một vài vụ việc tiêu cực. Ngược lại, vụ án lần này càng cho thấy quyết tâm làm trong sạch bộ máy và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch phải được thực hiện mạnh mẽ hơn. Một nền kinh tế muốn phát triển không thể để doanh nghiệp mất thời gian xin phép nhiều hơn sáng tạo, càng không thể để quyền lực hành chính trở thành "mảnh đất" để trục lợi. Nhổ tận gốc "giấy phép con" không chỉ là cải cách thủ tục hành chính, mà còn là cách hữu hiệu nhất để nhổ tận gốc cơ chế xin - cho và những mầm mống tham nhũng. N.T Nhổ tận gốc giấy phép con TIẾP THEO TRANG 1 Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long cho biết, diện tích trồng mới sầu riêng tăng nhanh và tự phát, mở rộng tại các vùng không phù hợp dẫn đến rủi ro về năng suất, chất lượng. Về kiểm soát dư lượng chất cấm, nông dân còn nhiều lúng túng trong việc quản lý kim loại nặng (cadimi) từ đất, phân bón đến các chất làm đẹp trái như vàng O. Một hạn chế lớn là chuỗi liên kết lỏng lẻo, tình trạng tranh mua, tranh bán, “bẻ cọc”, bỏ hợp đồng khi giá biến động; liên kết giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp thiếu bền vững, dễ đứt gãy…

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==