Báo Tiền Phong số 211

NHIỀU BỆNH NHÂN ĐẾN BỆNH VIỆN QUÁ MUỘN Trong vài năm gần đây, điều trị ung thư tại Việt Nam đã có nhiều bước tiến với sự xuất hiện của phẫu thuật robot, xạ trị chính xác, thuốc nhắm trúng đích, liệu pháp miễn dịch và các xét nghiệm sinh học phân tử phục vụ điều trị cá thể hóa. Tuy nhiên, khoảng cách giữa tiến bộ y học và khả năng tiếp cận của người bệnh vẫn còn khá lớn. Phát hiện muộn, chênh lệch nguồn lực giữa các tuyến, chi phí điều trị cao và những khoảng trống trong chăm sóc toàn diện đang trở thành những điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Theo BS.CKII Võ Đức Hiếu, Phó Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TPHCM, điều trị ung thư hiện nay cũng đã thay đổi đáng kể so với trước đây. Thay vì áp dụng một phác đồ tương đối giống nhau cho nhiều bệnh nhân, các bác sĩ ngày càng dựa vào kết quả mô bệnh học, dấu ấn sinh học và xét nghiệm gene để lựa chọn phương pháp phù hợp với từng trường hợp. Nhiều kỹ thuật hiện đại như phẫu thuật nội soi, phẫu thuật robot, xạ trị điều biến liều, xạ trị định vị thân hay các thuốc điều trị trúng đích, miễn dịch đã được triển khai tại các trung tâm lớn, mở thêm cơ hội kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng điều trị. Tuy vậy, những thành tựu này vẫn chưa được tiếp cận đồng đều. Phẫu thuật chuyên sâu, xạ trị kỹ thuật cao và các xét nghiệm sinh học phân tử hiện vẫn tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Người bệnh ở nhiều địa phương phải di chuyển nhiều lần để khám, điều trị và theo dõi, kéo theo chi phí đi lại, ăn ở và nguy cơ gián đoạn điều trị. “Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là nhiều bệnh nhân vẫn đến bệnh viện khi ung thư đã ở giai đoạn tiến triển. Trong khi đó, ở giai đoạn sớm, phần lớn các loại ung thư gần như không có triệu chứng đặc hiệu hoặc chỉ biểu hiện mơ hồ, dễ bị bỏ qua. Không ít người còn e ngại khám bệnh, tự điều trị hoặc tin vào các phương pháp chưa được kiểm chứng, khiến cơ hội can thiệp sớm bị bỏ lỡ”, bác sĩ Hiếu bày tỏ. Để giảm áp lực cho tuyến cuối, Bệnh viện Ung Bướu TPHCM đã tổ chức khám từ sáng sớm, kéo dài thời gian xạ trị đến khoảng 22 giờ, tăng cường phẫu thuật ngoài giờ và ngày thứ bảy, đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý lịch mổ và điều phối người bệnh. Nhờ đó, thời gian chờ phẫu thuật và xạ trị đã được rút ngắn. Tuy nhiên, theo bác sĩ Hiếu, giải pháp căn cơ vẫn là đầu tư thêm trang thiết bị, đào tạo nhân lực và chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến tỉnh để người bệnh được điều trị ngay tại địa phương. Bên cạnh đó, khoảng cách về năng lực điều trị cũng được nhìn thấy rõ trong lĩnh vực ung thư nhi. Theo BS.CKII Phan Thị Thu Trang, Phó trưởng khoa Ung bướu - Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2, ung thư trẻ em hiện không còn đồng nghĩa với “án tử”. Dù vậy, cơ hội tiếp cận các phương pháp điều trị tiên tiến vẫn còn nhiều hạn chế. Theo bác sĩ Trang, ở một số công nghệ mới, Việt Nam vẫn chậm hơn nhiều nước phát triển khoảng 20-30 năm. Thuốc nhắm trúng đích, kháng thể đơn dòng hay ghép tế bào gốc đã được triển khai nhưng chi phí cao khiến số bệnh nhi có thể tiếp cận còn rất ít. Hiện cả nước chỉ có khoảng 10 trung tâm điều trị ung thư nhi. Nhiều gia đình phải đưa con đi hàng trăm, thậm chí hàng nghìn kilômét để điều trị tại các bệnh viện tuyến cuối. Từ thực tế đó, bác sĩ Trang đề xuất mở rộng năng lực hóa trị tại tuyến tỉnh để trẻ được điều trị sớm và gần nơi cư trú hơn, đồng thời tăng số phòng bệnh nhằm hạn chế lây nhiễm chéo và bổ sung nguồn lực công tác xã hội để hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn. DINH DƯỠNG CÒN NHIỀU KHOẢNG TRỐNG Không chỉ kỹ thuật điều trị, chăm sóc dinh dưỡng cũng là một mắt xích còn nhiều khoảng trống. Tiến sĩ, Bác sĩ Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết suy dinh dưỡng là tình trạng rất phổ biến nhưng thường bị phát hiện muộn ở bệnh nhân ung thư. Nhiều người đã sụt cân, mất khối cơ và suy kiệt ngay từ trước khi bắt đầu điều trị. “Những dấu hiệu như sụt cân không chủ ý, chán ăn, ăn không ngon, nuốt nghẹn hoặc no sớm đều có thể là cảnh báo cần được quan tâm. Theo thống kê, khoảng 4080% bệnh nhân ung thư tại Việt Nam đã có tình trạng sụt cân hoặc suy dinh dưỡng trước khi bước vào điều trị”, bác sĩ Tâm nói. Theo bác sĩ Tâm, khối u không chỉ tiêu hao năng lượng mà còn làm thay đổi quá trình chuyển hóa, khiến cơ thể mất cơ, mất mỡ và suy giảm miễn dịch. Trong khi đó, phẫu thuật, hóa trị và xạ trị tiếp tục tạo thêm áp lực khi gây buồn nôn, viêm niêm mạc, đau khi nuốt, giảm hấp thu và mệt mỏi kéo dài. Nếu không được can thiệp dinh dưỡng đúng thời điểm, người bệnh dễ rơi vào vòng xoắn suy mòn, không đủ thể trạng để hoàn thành phác đồ điều trị. Ngay từ khi chẩn đoán ung thư, người bệnh cần được sàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng, đánh giá khả năng ăn uống để xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp hoặc hỗ trợ nuôi dưỡng khi cần thiết. Song song với việc hoàn thiện hệ thống điều trị, nhiều chuyên gia kỳ vọng trí tuệ nhân tạo sẽ giúp thu hẹp khoảng cách trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Theo Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Duy Sinh, chuyên gia ung thư và cố vấn y khoa tại Gene Solutions, giải trình tự gene tạo ra lượng dữ liệu rất lớn mà con người khó có thể xử lý đầy đủ. Trí tuệ nhân tạo có thể đồng thời phân tích dữ liệu di truyền, thông tin lâm sàng, hình ảnh chẩn đoán và kết quả xét nghiệm để hỗ trợ bác sĩ phát hiện bất thường, dự đoán tiên lượng, lựa chọn thuốc và theo dõi nguy cơ tái phát. Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Duy Sinh cho hay, hiện chỉ có một số loại ung thư được khuyến cáo tầm soát thường quy, trong khi khoảng 70% số ca tử vong lại liên quan đến những loại ung thư chưa có chương trình tầm soát hiệu quả. Khi khối u mới hình thành, một phần vật liệu di truyền có thể đã đi vào máu. Nếu phát hiện được những tín hiệu này ở giai đoạn sớm, AI có thể tiếp tục phân tích đặc điểm DNA để dự đoán cơ quan phát sinh khối u, giúp bác sĩ định hướng các bước nội soi, chẩn đoán hình ảnh hoặc sinh thiết phù hợp. ANH NHÀN - HUY LÊ - TRẦN HUYỀN 12 n Thứ Năm n Ngày 30/7/2026 XÃ HỘI Từ điều trị cá thể hóa, thuốc nhắm trúng đích đến trí tuệ nhân tạo, y học ung thư tại Việt Nam đang có nhiều bước tiến. Song phía sau những thành tựu đó vẫn còn những “điểm nghẽn” về tiếp cận công nghệ, nguồn lực và chăm sóc người bệnh, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ hơn trong thời gian tới. Trong điều trị, xét nghiệm gene cũng giúp xác định các đột biến để lựa chọn thuốc nhắm trúng đích, đồng thời phát hiện những biến đổi mới khi khối u kháng thuốc nhằm điều chỉnh phác đồ. Việc theo dõi định kỳ nồng độ DNA khối u trong máu còn có thể phản ánh khả năng đáp ứng điều trị hoặc cảnh báo nguy cơ tái phát trước cả khi hình ảnh học ghi nhận tổn thương. Điểm nghẽn trong điều trị ung thư tại Việt Nam Chi phí điều trị vẫn là gánh nặng đối với nhiều gia đình ẢNH: HUẾ XUÂN Hội thảo phòng chống ung thư: Cần bước đột phá toàn diện Tiến sĩ, Bác sĩ Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Duy Sinh, chuyên gia ung thư và cố vấn y khoa tại Gene Solutions Ngày 31/7, Báo Tiền Phong phối hợp Bộ Y tế và Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng tổ chức hội thảo “Phòng chống ung thư: Cần bước đột phá toàn diện”. Hội thảo được tổ chức nhằm nhận diện điểm nghẽn trong công tác phòng, chống ung thư tại Việt Nam, từ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, hạn chế về nhân lực và mạng lưới điều trị đến chi phí, phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế và khả năng tiếp cận thuốc, kỹ thuật mới. Chương trình cũng là diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia và cơ sở y tế đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả dự phòng, tầm soát, chẩn đoán và điều trị ung thư. Thời gian diễn ra hội thảo: 8h00 ngày 31/7/2026. Khách mời, chuyên gia tham dự hội thảo: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tri Thức - Thứ trưởng Bộ Y tế; Tiến sĩ Nguyễn Trọng Khoa - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú - Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chánh Văn phòng Hội Ung thư Việt Nam; Bác sĩ CKII Nguyễn Đình Văn - Trưởng khoa Ung bướu - Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2; Tiến sĩ, Bác sĩ Lưu Ngân Tâm - Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy; Ngoài ra còn có đại diện sở y tế các tỉnh, thành phía Nam, cùng các bệnh viện, hiệp hội chuyên ngành và doanh nghiệp y tế.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==