Báo Tiền Phong số 279

VIỆC LÀM, THU NHẬP RA SAO? THỨ BA 6/10/2026 Số 279 0977.456.112 TRANG 10 TRANG 12 TRANG 8-9 HÀ NỘI PHẢI THÀNH ĐIỂM GẶP GỠ CỦA CÁC NỀN VĂN HÓA THẾ GIỚI Khuyến cáo miền Tây ứng phó hạn, mặn Thắng giải Nobel Y học nhờ “công tắc” ánh sáng Công nhân làm việc tại nhà máy ở Khu kinh tế Vũng Áng ẢNH: CTV TRANG 16 CẦN ĐÁNH GIÁ TỔNG THỂ SAU ASIAD 20 TRANG 15 SIẾT AN TOÀN THỰC PHẨM: Tránh để doanh nghiệp gánh thêm thủ tục XÁC ĐỊNH KHÂU ĐỘT PHÁ ĐỂ CHUYỂN NGUỒN LỰC THÀNH NĂNG LỰC SẢN XUẤT, KINH DOANH Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ẢNH: TTXVN TRANG 2-3 TRANG 4-5 CHUYỆN HÔM NAY Có những việc nhìn trên giấy tờ rất đẹp: đủ quy trình, đủ hồ sơ, đủ cuộc họp, đủ chữ ký. Nhưng khi đặt xuống đời sống, việc vẫn nằm đó, người dân vẫn chờ, doanh nghiệp vẫn vướng. Đo cán bộ bằng việc khó n NGUYỄN TUẤN XEM TIẾ P TRANG 9 GDP 9 THÁNG TĂNG 9,01%:

2 THỜI SỰ n Thứ Ba n Ngày 6/10/2026 "Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thưa các đồng chí đại biểu dự Hội nghị, Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc Hội nghị lần thứ tư để xem xét những vấn đề quan trọng về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển đất nước. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí dự Hội nghị. Hội nghị diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2026, chuẩn bị kế hoạch năm 2027 và những năm tiếp theo. Biến động quốc tế, cạnh tranh công nghệ, chiến tranh thương mại và yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đất nước, mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% đòi hỏi chúng ta phải nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và quyết tâm hành động. Muốn nắm bắt thời cơ, phải có tư duy chiến lược, tính chủ động để phân tích tình hình, đưa ra quyết sách đúng, tổ chức thực hiện hiệu quả. Điều đặc biệt quan trọng là sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân. Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định đường lối, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn. Hội nghị Trung ương 2 đã quyết định các vấn đề quan trọng về tổ chức, cán bộ và quy định nền tảng của Đảng cho nhiệm kỳ mới. Hội nghị Trung ương 3 tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội bằng những chủ trương lớn về xây dựng Đảng, mô hình phát triển và các chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hội nghị lần này vừa phải giải quyết những điều kiện để thực hiện hiệu quả các quyết sách đó, vừa phải chuẩn bị cơ sở lý luận, tổ chức và con người cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Yêu cầu bao trùm là nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, quy tụ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục tiêu phát triển. Những vấn đề về tổ chức, xây dựng Đảng, phương thức lãnh đạo, cầm quyền; cán bộ, nguồn lực và phát triển kinh tế - xã hội cần được xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với nhau: Đảng định hướng đúng. Hệ thống chính trị, guồng máy hành chính vận hành hiệu quả. Tiềm năng, sức lực con người được phát huy. Nhân dân được thụ hưởng thành quả. Gắn nhiệm vụ trước mắt với mục tiêu năm 2030, năm 2045 và tầm nhìn lâu dài, tôi xin gợi mở 4 trọng tâm mà Hội nghị Trung ương 4 cần tập trung giải quyết. I. NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ ĐỔI MỚI, TỰ CHỈNH ĐỐN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC CỦA ĐẢNG Năng lực lãnh đạo của Đảng được bồi đắp từ sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khả năng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Tổng kết 15 năm thực hiện nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần làm rõ: những chuyển biến trong tổ chức, xây dựng Đảng đã nâng cao chất lượng lãnh đạo, khả năng giải quyết các vấn đề phát triển và củng cố niềm tin của Nhân dân đến đâu? Các tổ chức Đảng và đảng viên mạnh lên, trưởng thành lên ở những lĩnh vực nào, lĩnh vực nào cần khắc phục. Trung ương cần nhìn thẳng vào những hạn chế kéo dài: vì sao tồn tại, khuyết điểm đã được chỉ ra nhưng chậm sửa chữa; vi phạm đã được cảnh báo nhưng vẫn tái diễn; có nội dung đúng quy trình mà chưa chọn đúng người, chưa giải quyết được việc, hiệu quả thấp. Các nghị quyết mới phải xử lý căn nguyên, xác định trách nhiệm, kể cả trách nhiệm của cơ quan lãnh đạo, tham mưu ở Trung ương. Nghị quyết mới phải kết hợp chặt chẽ xây dựng với chỉnh đốn, giáo dục. Phòng ngừa với xử lý nghiêm minh. Hình thành cơ chế để tổ chức đảng, từng đảng viên tự phát hiện, tự sửa chữa khuyết điểm. Xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh phải thể hiện ở sự liêm chính, công tâm, tôn trọng sự thật, bảo vệ cái đúng và trách nhiệm trước nhân dân. Phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Niềm tin của nhân dân phải được bồi đắp từ việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến đúng, giải quyết quyền lợi chính đáng và sửa chữa khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị -xã hội; bảo đảm nhân dân tham gia đóng góp chủ trương, giám sát thực hiện và thụ hưởng thành quả. Đó là nền tảng để củng cố đại đoàn kết, quy tụ sức mạnh dân tộc. Các đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 40 năm thực hiện Cương lĩnh và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng cần được đặt trong yêu cầu chuẩn bị nền tảng cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Tổng kết phải lý giải được thành công, hạn chế, khuyết điểm và những vấn đề mới về con đường phát triển đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng. Tầm nhìn 20302130 cần xác định những giá trị phải giữ vững, năng lực cần tích lũy và trách nhiệm với các thế hệ sau; không biến tầm nhìn dài hạn thành dự báo cứng nhắc. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ phải gắn với các tổng kết nêu trên. Giữ vững nguyên tắc nền tảng, làm rõ yêu cầu mới về tổ chức, thẩm quyền, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực. Phân biệt vướng mắc do Điều lệ, văn bản thi hành hay tổ chức thực hiện; xác định rõ nội dung thuộc Điều lệ, nội dung do Trung ương quy định, vấn đề cần kiểm chứng. Chỉ đề xuất sửa đổi vấn đề cần thiết, có giá trị lâu dài; không chuyển cơ học nội dung nghị quyết vào Điều lệ. Hội nghị cho ý kiến về đề cương nghiên cứu, không giới hạn nội dung sửa đổi cụ thể; việc sửa đổi Điều lệ thuộc thẩm quyền của Đại hội. II. ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Mô hình tổ chức thay đổi đòi hỏi hoàn thiện đồng bộ phương thức lãnh đạo, cầm quyền. Không thể chỉ sắp xếp lại bộ máy mà giữ nguyên cách làm việc không còn phù hợp. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền phải bảo đảm thống nhất về định hướng, phân định rõ trách nhiệm, phát huy đầy đủ thẩm quyền và tính chủ động của từng cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị. Sơ kết Nghị quyết số 28 cần làm rõ phương thức lãnh đạo, cầm quyền phải đổi mới như thế nào để quyết sách có chất lượng hơn, bộ máy chủ động hơn, công việc được giải quyết tốt hơn. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ phải vận hành thực chất, khắc phục bao biện, làm thay, buông lỏng lãnh đạo và xin ý kiến nhiều vòng đối với việc thuộc thẩm quyền. Đảng lãnh đạo toàn diện bằng đường lối, định hướng chiến lược, Sáng 5/10, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc trọng thể. Báo Tiền Phong xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khai mạc Hội nghị. QUAÛNG CAÙO PHAÙT HAØNH Haø Noäi: ÑT: (024)39432758; Fax: (024)39435285 TPHCM: ÑT: (028)38469860; Fax: (028)38480015 Trong giôø haønh chính (024)39439664 Ngoaøi giôø 0912033213 (Thu Hieàn) n Thieát keá : QUANG HUY n Giaù: 5.500 ñoàng n Ban ñaiï dienä taiï thanø h pho á Ho à Chí Minh: 384 Nam Kyø Khôiû Nghóa, P.Xuanâ Hoa-ø TPHCM. ÑT: (028) 3848 4366, E-mail: tienphonghcm@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï mienà Trung: 339 Leâ Thanh Nghò, P.Hoaø Cöônø g; 19 Ngoâ Gia Tö,ï P.Haiû Chauâ , TP Ña ø Nanü g, ÑT: (0236)3828 039, E-mail: banmientrung@baotienphong.com.vn n Ban ñaiï dienä taiï Bacé Trung Bo:ä 21 Ho à Xuanâ Höông, P.Thanø h Vinh, tænh Ngheä An. ÑT: (0238)8602345; Email: baotienphongbactrungbo@gmail.com. n Ban ñaiï dienä taiï ÑBSCL: 103 Tranà Vanê Hoaiø , P.Ninh Kieuà , TP Canà Thô. ÑT: (0292)3823823, Email: baotienphongdbscl@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Nguyenâ - Nam Trung Bo:ä 52 Tranà Nhatä Duatä , P.Buonâ Ma Thuotä , Ñaké Laké , ÑT: (0262)3950029, E-mail: baotienphongtaynguyen@gmail.com; 1018, ñöônø g 2/4, P. Bacé Nha Trang, tænh Khanù h Hoaø . SÑT: 0258.6500.155. Email: tienphongnhatrang@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Tayâ Bacé Bo:ä 64 ñöônø g Ly ù Tö ï Tronï g, P.Yenâ Baiù , tænh Laoø Cai. ÑT: 0904938689, E-mail: vptaybacbotp@gmail.com n Ban ñaiï dienä taiï Ñonâ g Bacé Bo:ä So á 18 Le â Thanh Nghò, P.Haï Long, tænh Quanû g Ninh; E-mail: bandongbac@baotienphong.com.vn n Toøa soaïn: 15 Hoà Xuaân Höông, P.Hai Baø Tröng vaø D29 Phaïm Vaên Baïch, P.Caàu Giaáy, Haø Noäi. ÑT: 3943 4031 - 38227525 E-Mail: toasoan@baotienphong.com.vn, ISSN 0866-0827 Website: www.tienphong.vn n Toång Bieân taäp: PHUØNG COÂNG SÖÔÛNG n Phoù Toång Bieân taäp: Nguyeãn Ngoïc Tieán, Traàn Thò Thu Haø n In taiï : Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 1, Cty in baoù Nhanâ Danâ Ña ø Nanü g, Cty TNHH MTV in Ñaé êkê Laké , Xöônû g in Quanâ khu IV, Cty TNHH MTV in Quanâ ñoiä 2, TPHCM Trung ương Đảng họp về công tác cán bộ Sáng 5/10, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thay mặt Bộ Chính trị điều hành phần khai mạc Hội nghị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc và chủ trì Hội nghị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp về công tác cán bộ để bầu bổ sung ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương và cho chủ trương về việc đổi tên Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương thành Đảng ủy Dân vận, Mặt trận và các đoàn thể Trung ương. Sau đó, Trung ương và các đại biểu về làm việc tại tổ, thảo luận Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Buổi chiều, Trung ương và các đại biểu làm việc tại tổ, thảo luận hai nội dung. Một là, Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Hai là, Tổng kết Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và ban hành Nghị quyết mới về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Các đại biểu dự khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (trong ảnh, các đại biểu thực hiện nghi thức chào cờ) ẢNH: TTXVN Xác định khâu đột phá để chuyển nguồn lực thành năng lực sản xuất, kinh doanh

công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu. Phải phát huy đầy đủ chức năng, thẩm quyền của cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội. Trung ương quyết định những vấn đề lớn, liên ngành, liên vùng, có ý nghĩa lâu dài; cơ quan được giao thẩm quyền chủ động cụ thể hóa và chịu trách nhiệm việc tổ chức triển khai thực hiện. Chất lượng lãnh đạo phải được nâng lên từ phát hiện vấn đề, dự báo, lựa chọn phương án đến quyết định, kiểm tra và điều chỉnh. Cần làm rõ cách khắc phục tình trạng nhiều văn bản, nhiều cuộc họp nhưng công việc chậm chuyển biến. Dữ liệu, công nghệ phải giúp tham mưu chính xác, nhận diện sớm nguy cơ; không thay thế trách nhiệm của tổ chức và người quyết định. Phân cấp, phân quyền phải tạo năng lực hành động thực tế trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trung ương cần làm rõ quan hệ giữa quyền hạn, trách nhiệm và điều kiện thực hiện; cơ chế giải quyết việc liên ngành, liên cấp, vượt khả năng cơ sở. Không chuyển việc xuống dưới khi thiếu người, thiếu nguồn lực; không can thiệp làm mất quyền chủ động đã giao. Trách nhiệm tập thể và cá nhân phải được phân định, không chồng lấn hoặc thay thế nhau. Việc thay thế Quy định số 21 cần bảo đảm thống nhất về tổ chức đảng, thẩm quyền thi hành kỷ luật, giải quyết khiếu nại kỷ luật và quy trình thực hiện, phù hợp với mô hình mới. Đồng thời, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, phát hiện sớm sơ hở, kiểm soát cả lạm quyền và né tránh trách nhiệm. Giữ nghiêm kỷ luật đi đôi với bảo vệ cán bộ liêm chính, đổi mới vì lợi ích chung; không bao che sai phạm. III. ĐỔI MỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ, TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC Quyết sách chỉ trở thành hiện thực khi có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và trách nhiệm thực hiện. Tổng kết Nghị quyết số 26 phải mở ra bước phát triển mới trong công tác cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ từ yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển lâu dài. Cần quản lý đội ngũ thống nhất, liên thông; gắn nhiệm vụ chính trị, vị trí việc làm với tạo nguồn, đào tạo, đánh giá, bố trí và sàng lọc; khắc phục chia cắt theo từng khâu, từng cấp, từng nhiệm kỳ. Đánh giá cán bộ phải nhận diện được phẩm chất, thực tài, uy tín và triển vọng qua công việc, nhất là cách xử lý việc khó. Kết quả phải đặt trong tương quan với thẩm quyền, nguồn lực và điều kiện thực hiện; không lấy thành tích bù trừ vi phạm về chính trị, đạo đức, liêm chính. Cần làm rõ cơ chế để đánh giá dẫn đến sử dụng đúng, giao việc xứng đáng hoặc thay thế kịp thời, làm rõ trách nhiệm của người đánh giá, giới thiệu, quyết định đối với cả kết quả và hệ quả của việc bố trí cán bộ. Cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, tư duy hệ thống, năng lực lựa chọn và tổ chức thực hiện những quyết sách lớn; cán bộ cơ sở phải nắm chắc địa bàn, có năng lực giải quyết công việc và phục vụ nhân dân. Người đứng đầu phải biết phát hiện, trọng dụng người có đức, có tài, phát huy trí tuệ tập thể và chuẩn bị đội ngũ kế cận. Mỗi nhiệm kỳ phải để lại một đội ngũ tốt hơn, một tổ chức mạnh hơn, năng lực thực thi cao hơn. Cần làm rõ cơ chế phát hiện, thu hút nguồn cán bộ từ khu vực ngoài nhà nước và người Việt Nam ở nước ngoài; chuẩn bị nguồn cán bộ mở, nhiều lớp, nhiều phương án; tạo cơ hội cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học kỹ thuật. Phát triển tương xứng cả đội ngũ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia chuyên môn sâu; coi trọng tiêu chuẩn thực chất, điều kiện thực hiện ở cơ sở, tránh cơ cấu hình thức. Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược và năng lực đất nước đang thiếu. Cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng năng suất và sức tự chủ? Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài. Cần thảo luận cơ chế giao nhiệm vụ lớn, trao quyền thực chất, bảo đảm nguồn lực và đánh giá theo đóng góp; tạo môi trường tôn trọng sáng tạo, chấp nhận rủi ro nghiên cứu có kiểm soát. Kết nối nhân tài trong nước, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế; liên thông trường, viện, doanh nghiệp, khu vực công và tư. Thu hút được người tài phải đi cùng sử dụng hiệu quả, phát triển đội ngũ kế cận và chuyển giao tri thức. IV. XÁC ĐỊNH ĐÚNG ƯU TIÊN, PHÁT HUY HIỆU QUẢ NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG Đánh giá chung, tình hình kinh tế-xã hội năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, GDP trong 9 tháng của cả nước đạt 9,01%, trong đó có 12/34 tỉnh, thành đạt trên 10%. Tuy nhiên, dư địa điều hành vĩ mô đang bị thu hẹp. Đề nghị Trung ương đánh giá kết quả toàn diện năm 2026, làm rõ mức độ hoàn thành các mục tiêu và nền tảng tăng trưởng cho những năm tiếp theo. Cần xem xét chất lượng tăng trưởng qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống nhân dân; chỉ rõ những hạn chế của các động lực phát triển, nguyên nhân và trách nhiệm và việc cần tập trung để hoàn thành cao nhất nhiệm vụ năm 2026. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển là thước đo quan trọng về hiệu quả quyết sách, chất lượng công tác cán bộ và năng lực tổ chức thực hiện. Năm 2027 phải tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ. Đề nghị Trung ương thảo luận kỹ mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu chủ yếu và giải pháp trọng tâm, nhất là cơ sở, điều kiện phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, lạm phát khoảng 4,5%. Vấn đề là tạo được động lực tăng trưởng mạnh hơn, đồng thời củng cố ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và sức chống chịu của nền kinh tế. Kế hoạch năm phải cụ thể hóa Kết luận số 18-KL/TW, gắn tăng tốc với triển khai đổi mới mô hình phát triển. Trung ương cần làm rõ: đâu là những khâu đột phá để chuyển nguồn lực thành năng lực sản xuất, kinh doanh và kết quả phát triển thực chất? Cần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao năng lực hấp thụ vốn, bảo đảm hạ tầng, năng lượng, nhân lực; khơi thông đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, cả trực tiếp và gián tiếp, củng cố sức mua, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với chuyển giao công nghệ, liên kết doanh nghiệp và nâng giá trị gia tăng trong nước. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phải trở thành nguồn tăng năng suất. Nguồn lực công phải tạo sức lan tỏa, thu hút đầu tư xã hội và lợi ích thiết thực cho nhân dân. Phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ cần tạo điều kiện cho tăng trưởng, giữ vững ổn định; lựa chọn đúng ưu tiên, xác định rõ lộ trình và trách nhiệm thực hiện. Về ngân sách nhà nước, đề nghị Trung ương đánh giá năm 2026, cho ý kiến về dự toán năm 2027, làm rõ khả năng cân đối và những điều chỉnh cần thiết để phục vụ yêu cầu tăng tốc, bứt phá. Huy động nguồn thu phải gắn với nuôi dưỡng nguồn thu, phát triển doanh nghiệp. Phân bổ nguồn lực cần bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương, phát huy tính chủ động của địa phương; hài hòa giữa đầu tư phát triển, cải cách tiền lương và an sinh xã hội. Cần thảo luận cơ chế khắc phục dàn trải, ràng buộc chưa hợp lý, tiết kiệm ngay từ phân bổ để tập trung cho nhiệm vụ trọng điểm; đánh giá hiệu quả chi qua kết quả thực tế. Điều hành và đánh giá thực hiện dự toán cần linh hoạt trước biến động, thay đổi chính sách, gắn với kỷ luật tài chính, trách nhiệm giải trình và khả năng cân đối lâu dài. Phát huy hiệu quả nguồn lực đòi hỏi tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, mỗi người dân đóng góp và làm giàu chính đáng. Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh cần được xem xét trong yêu cầu đó, gắn tính tiên phong trong phát triển kinh tế với giữ vững bản chất của Đảng, tăng cường xây dựng Đảng trong khu vực ngoài nhà nước. Cần làm rõ quyền, điều kiện, giới hạn phù hợp với địa vị pháp lý, chức trách và nguy cơ xung đột lợi ích; bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp, kiểm soát chủ thể thực sự chi phối, hưởng lợi. Không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng. Mọi lựa chọn phát triển phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, mở rộng cơ hội và bảo đảm công bằng trong thụ hưởng của nhân dân. Giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở, an sinh xã hội phải được đặt trong chất lượng phát triển, chú trọng người yếu thế, vùng khó khăn. Tăng trưởng phải gắn với bảo vệ môi trường, phòng ngừa thiên tai, củng cố quốc phòng, an ninh; giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển lâu dài của đất nước. Thưa các đồng chí, Bốn trọng tâm trên cùng hướng tới một yêu cầu: xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đủ sức lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển, phát huy sự tham gia và sức sáng tạo của toàn dân. Trong quá trình xem xét các nội dung của chương trình, đề nghị Trung ương tập trung làm rõ 4 vấn đề xuyên suốt. Trước hết, mỗi đề án phải xác định đúng những vấn đề cần giải quyết. Vướng ở chủ trương, thể chế hay ở tổ chức thực hiện, phối hợp và trách nhiệm cá nhân? Vì sao quy định đã sửa, nguồn lực đã giao mà công việc vẫn chậm? Phân biệt rõ bất cập của chủ trương với yếu kém trong thực hiện; bảo đảm các quyết sách thống nhất, không tháo gỡ ở lĩnh vực này lại tạo rào cản ở lĩnh vực khác. Thứ hai, các chủ trương, định hướng lớn đã xác định phải được thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thi hành hiệu quả. Cần sửa luật, chính sách nào; cơ quan nào chủ trì, thời hạn nào hoàn thành? Không để lợi ích cục bộ, thủ tục phát sinh làm thu hẹp chủ trương. Trách nhiệm phải gắn với chất lượng, tiến độ thể chế hóa và kết quả thi hành. Thứ ba, phải bảo đảm con người, thẩm quyền và nguồn lực ngay khi quyết định. Làm đâu chắc đó: việc đã rõ thì quyết định, triển khai kịp thời; việc mới, khó cần thí điểm phải rõ phạm vi, thẩm quyền, thời hạn, cơ chế kiểm soát và tiêu chí đánh giá. Làm chắc để đi nhanh, không lấy thận trọng làm lý do trì hoãn. Nhưng cũng tuyệt đối không được chủ quan, nóng vội. Thứ tư, mỗi quyết sách phải có cách kiểm chứng kết quả và điều chỉnh từ thực tiễn. Vấn đề nào được giải quyết, nguồn lực nào được khơi thông, nhân dân được hưởng lợi gì? Mọi kết quả phải đảm bảo tính hiệu quả. Nhiệm vụ trước mắt phải gắn với kế hoạch, ngân sách năm 2027; nghiên cứu dài hạn phải rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm. Đề nghị các đồng chí Trung ương thảo luận dân chủ, thẳng thắn, đi sâu vào những lựa chọn lớn, những vấn đề còn khác nhau; nêu rõ căn cứ, phương án và kiến nghị. Trung ương phải nêu gương về bản lĩnh quyết định, tinh thần tự phê bình và trách nhiệm thực hiện. Mọi lựa chọn phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân lên trên hết. Với tinh thần đó, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi tuyên bố khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp". ---------- *Tít bài do Tiền Phong đặt 3 n Thứ Ba n Ngày 6/10/2026 THỜI SỰ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ẢNH: TTXVN “Cán bộ cấp chiến lược phải có tầm nhìn, tư duy hệ thống, năng lực lựa chọn và tổ chức thực hiện những quyết sách lớn; cán bộ cơ sở phải nắm chắc địa bàn, có năng lực giải quyết công việc và phục vụ nhân dân. Người đứng đầu phải biết phát hiện, trọng dụng người có đức, có tài, phát huy trí tuệ tập thể và chuẩn bị đội ngũ kế cận. Mỗi nhiệm kỳ phải để lại một đội ngũ tốt hơn, một tổ chức mạnh hơn, năng lực thực thi cao hơn”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM

KHÔNG THỂ TRÔNG CHỜ VÀO ĐÀ TỰ NHIÊN Trao đổi với Tiền Phong ngày 5/10, TS Đinh Thế Hiển - chuyên gia kinh tế - cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10% năm 2026 của TPHCM có cơ sở, nhưng cần tăng tốc mạnh trong quý IV. GRDP 9 tháng tăng 9,06%, riêng quý III tăng 9,86%. Theo tính toán, quý IV phải tăng khoảng 13,5% mới đưa cả năm vượt 10%. “Đây là mức tăng cao hơn đáng kể so với quý III, vì vậy không thể chỉ trông chờ vào đà tăng trưởng tự nhiên”, ông Hiển nói. Theo TS Hiển, thành phố vẫn có những điểm tựa quan trọng: vận tải 9 tháng tăng 14,16%, bán lẻ hàng hóa tăng 15,6%, xây dựng quý III tăng 12,52%. Nếu dòng vốn sớm chuyển thành công trình, đơn hàng và sản xuất thực tế, đây sẽ là động lực quan trọng cho tăng trưởng những tháng cuối năm. Tác động của tăng trưởng không chỉ nằm ở con số GRDP mà còn thể hiện qua nhu cầu lao động. Khi đầu tư được triển khai, doanh nghiệp có thêm đơn hàng, các công trình cần nhân công, vật liệu, thiết bị và dịch vụ; từ đó tạo thêm việc làm và thu nhập. Thu nhập tăng cũng góp phần thúc đẩy sức mua, tạo thêm dư địa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. TS. Hiển cho rằng, nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, nhu cầu nhân lực sẽ tiếp tục mở rộng ở nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, tăng trưởng chỉ thực sự đi vào đời sống khi chuyển hóa thành việc làm, thu nhập và cơ hội phát triển cho người dân. Vì vậy, bên cạnh mở rộng quy mô kinh tế, TPHCM cần chú trọng nâng năng suất lao động và khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực. Về giải pháp cho 3 tháng cuối năm, ông Hiển cho rằng đầu tư công có tác động nhanh nếu xử lý đúng điểm nghẽn, trọng tâm là khối lượng xây lắp thực tế được thanh toán trong quý IV. Với đầu tư tư nhân và FDI, thành phố cần biến vốn đăng ký thành công trường thay vì chỉ thu hút vốn. Thành phố cần giải phóng những nguồn lực đã có nhưng đang nằm chờ. Anh Ninh Thanh Tú - Kỹ sư máy móc (ở phường Thủ Đức, TPHCM) - cho biết, các dự án hạ tầng lớn đang mở thêm cơ hội việc làm cho nhóm lao động kỹ thuật. Theo anh, những công trình như metro, giao thông, khu đô thị sinh thái hay dự án lấn biển Cần Giờ… có thời gian triển khai kéo dài, giúp người lao động có thêm lựa chọn công việc và cơ hội gắn bó lâu dài hơn. Tuy nhiên, theo anh Tú, cơ hội này cũng đi kèm yêu cầu cao hơn về tay nghề. Người lao động không chỉ cần kinh nghiệm chuyên môn mà còn phải biết vận hành máy móc, đọc bản vẽ, sử dụng công nghệ và tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn. Với lao động địa phương, nếu được đào tạo đúng nhu cầu của doanh nghiệp và dự án, đây không chỉ là cơ hội có thêm việc làm mà còn giúp nâng tay nghề, cải thiện thu nhập. CƠ HỘI CÀNG LỚN, YÊU CẦU CÀNG CAO Ông Bùi Đoàn Chung - Sáng lập Cộng đồng Nghề Nhân sự Việt Nam - cho rằng, tăng trưởng 2 con số nếu được duy trì sẽ tác động khá rõ đến thị 4 KINH TẾ n Thứ Ba n Ngày 6/10/2026 THU NHẬP TĂNG NHƯNG CHƯA ĐỒNG ĐỀU Kinh tế Việt Nam đang bước vào những tháng cuối năm với tốc độ tăng trưởng ấn tượng. GDP quý III ước tăng 9,95%, đưa mức tăng 9 tháng lên 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp - xây dựng tăng hơn 11%, dịch vụ tăng 8,69%, cho thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được mở rộng. Đà tăng trưởng này cũng ghi nhận thị trường lao động. Chín tháng, cả nước có hơn 52,7 triệu người có việc làm, tăng gần 684.000 người so với cùng kỳ. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ lao động thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập của người lao động tiếp tục tăng nhưng chưa đồng đều. 9 tháng năm 2026, thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/ tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ; có khoảng cách về mức thu nhập giữa lao động nam - nữ và thành thị - nông thôn. Tại Hà Nội, nhu cầu việc làm thể hiện khá rõ qua hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm. 9 tháng, thành phố giải quyết việc làm cho khoảng 161.000 lao động. Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội tổ chức 191 phiên giao dịch việc làm, giới thiệu việc làm cho hơn 10.000 người. Điều đáng chú ý là thị trường không chỉ có dòng người tìm việc mà còn có dòng người rời khỏi công việc cũ để tìm cơ hội mới. Cùng thời gian, Hà Nội giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho hơn 51.000 người; hơn 47.500 người thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm. Tại Đồng Nai, một trong những trung tâm sản xuất lớn, nhu cầu tuyển dụng cũng rất rõ. Trong một phiên giao dịch việc làm hồi tháng 9, có 20 doanh nghiệp đăng ký tuyển hơn 4.100 lao động, phần lớn là lao động phổ thông trong các ngành chế biến, chế tạo, may mặc, giày da, gỗ, cơ khí, kim loại. THÁCH THỨC THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Tuy nhiên, một khoảng trống mang tên “3 không” đang ghi nhận ở nhóm lao động trẻ. Tỷ lệ thanh niên 15-24 tuổi bị thất nghiệp tới 8,87%, cao hơn tỷ lệ thất nghiệp chung và là mức cao nhất trong 9 tháng của giai đoạn 2020-2026. Đáng chú ý, khoảng 1,6 triệu thanh niên rơi vào tình trạng không có việc làm, không đi học và cũng không tham gia đào tạo - nhóm “3 không”. Trong nhóm những người đã bước vào thị trường lao động, người có thu nhập tốt là kết quả của quá trình họ tích lũy kinh Việc làm, thu nhập ra sao? Cơ hội cho người lao động GDP 9 tháng tăng 9,01%, mức cao nhất 15 năm; thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 9,1 triệu đồng/ tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, còn một bộ phận thanh niên đứng ngoài thị trường lao động. Khi TPHCM hướng tới mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10%, dư địa việc làm được kỳ vọng mở rộng theo sự phát triển của đầu tư, sản xuất, dịch vụ. Tuy nhiên, cơ hội chỉ thực sự thuộc về người lao động khi năng lực đáp ứng kịp yêu cầu mới. Thu nhập bình quân người lao động tăng 9,1%, đạt 9,1 triệu đồng/tháng ẢNH: NHƯ Ý Người lao động được Trung tâm Dịch vụ việc làm TPHCM tư vấn, hỗ trợ tìm việc làm phù hợp ẢNH: CTV Người trẻ chủ động nâng cấp năng lực của mình Ông Bùi Đoàn Chung, Sáng lập Cộng đồng Nghề Nhân sự Việt Nam cho rằng, cơ hội sẽ lớn hơn đối với những người chủ động nâng cấp năng lực của mình. Trong một thị trường tăng trưởng nhanh, doanh nghiệp sẵn sàng trả mức thu nhập tốt hơn cho nhân sự tạo ra giá trị, nhưng đổi lại yêu cầu về năng lực cũng cao hơn. Người trẻ vì thế không nên chỉ chờ thị trường tạo việc làm mà phải chuẩn bị để mình trở thành lực lượng có thể đáp ứng những công việc mà thị trường đang cần. “TPHCM cần hướng tới không chỉ nhiều việc làm hơn mà là việc làm có năng suất, thu nhập và khả năng phát triển nghề nghiệp tốt hơn. Khi đó, thành quả tăng trưởng mới thực sự chuyển hóa thành chất lượng sống của người dân”, ông Chung nói. Đại diện Cục Thống kê đề xuất thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh đào tạo kỹ năng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển việc làm chính thức và hỗ trợ quá trình chuyển dịch lao động sang các ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn. GDP 9 THÁNG TĂNG 9,01%:

CÔNG NGHIỆP TRỞ THÀNH “ĐẦU KÉO” TĂNG TRƯỞNG Những ngày đầu tháng 10, hoạt động sản xuất, vận chuyển hàng hóa tại Khu kinh tế Vũng Áng diễn ra sôi động. Tại các cảng biển, tàu hàng nối tiếp cập bến, hàng hóa được bốc dỡ, vận chuyển vào các nhà máy và ngược lại. Bên trong khu kinh tế, các dây chuyền sản xuất tại nhiều nhà duy trì hoạt động, trong khi các dự án đang tiếp tục được triển khai. Không chỉ tại Vũng Áng, hoạt động công nghiệp, xây dựng và các lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn Hà Tĩnh cũng đang có nhiều chuyển động. Những kết quả này góp phần đưa GRDP của tỉnh 9 tháng năm tăng 12,36%, đứng thứ 2/34 tỉnh, thành phố trên cả nước. Trong đó, công nghiệp tiếp tục là một động lực quan trọng của tăng trưởng. Theo Cục Thống kê Hà Tĩnh, 9 tháng năm 2026, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 21,56%. Riêng quý III, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 56,13% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng tăng 40,15%. Trong bức tranh đó, Khu kinh tế Vũng Áng tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Sau gần hai thập kỷ phát triển, từ một khu vực tập trung các ngành công nghiệp nặng, Vũng Áng đang từng bước mở rộng sang năng lượng, sản xuất phương tiện giao thông, công nghiệp hỗ trợ và logistics, bên cạnh các ngành luyện kim và hệ thống cảng biển đã hình thành. Việc các tổ máy của Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II lần lượt đi vào vận hành thương mại, cùng với hoạt động sản xuất ô tô và xe máy điện, đang bổ sung thêm năng lực sản xuất và những sản phẩm mới cho khu kinh tế. Trong 9 tháng, sản lượng ô tô đạt hơn 62.000 xe, tăng hơn 57.000 xe so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu đến từ việc nhà máy duy trì sản xuất ổn định trong năm đầu tiên có đủ chu kỳ sản xuất, đồng thời mở rộng thêm các dòng xe. Từ tháng 4, Hà Tĩnh có thêm sản phẩm công nghiệp mới khi nhà máy xe máy điện bắt đầu sản xuất. Sau 6 tháng, sản lượng đạt khoảng 169.000 xe. Sự xuất hiện của sản phẩm mới góp phần đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp, đồng thời mở thêm dư địa tăng trưởng cho địa phương. Ở lĩnh vực năng lượng, sản lượng điện 9 tháng đạt khoảng 13.836 triệu kWh, tăng 51,29% so với cùng kỳ. Việc Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II lần lượt đưa hai tổ máy vào vận hành thương mại trong năm nay là một trong những yếu tố góp phần làm tăng sản lượng điện của tỉnh. Ông Hoàng Trọng Bính - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng II - cho biết từ đầu năm đến nay nhà máy đã sản xuất gần 4,7 tỷ kWh điện. Trong 6 tháng cuối năm, doanh nghiệp tiếp tục phấn đấu duy trì vận hành ổn định, hướng tới mục tiêu đạt khoảng 60% công suất. "Việc hai tổ máy cùng đi vào vận hành không chỉ bổ sung sản lượng điện mà còn kéo theo nhu cầu về nhân lực và các dịch vụ phục vụ hoạt động của nhà máy. Hiện Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng II có khoảng 500 cán bộ, công nhân viên; cùng với đó là các đơn vị cung cấp nhân lực, vật tư, dịch vụ kỹ thuật và công trình phụ trợ tham gia vào quá trình vận hành", ông Bính cho hay. MỞ RỘNG DƯ ĐỊA TĂNG TRƯỞNG Không chỉ dựa vào năng lực sản xuất hiện hữu, Hà Tĩnh đang mở thêm dư địa tăng trưởng từ dòng vốn đầu tư mới. Từ đầu năm đến nay, tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư 46 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 180.600 tỷ đồng và 4 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn hơn 412 triệu USD. Nhiều dự án tập trung vào các lĩnh vực thép, năng lượng, xe máy điện, điện gió và hạ tầng khu công nghiệp. Trên các công trường, dòng vốn này đang được cụ thể hóa bằng khối lượng xây dựng lớn. Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng, Nhà máy sản xuất thép VinMetal, các dự án điện gió, Khu đô thị Kỳ Trinh cùng nhiều công trình hạ tầng đang triển khai, tạo thêm việc làm và nhu cầu về vật liệu, nhân lực, vận tải, dịch vụ xây dựng. Không chỉ tạo thêm năng lực sản xuất, sự gia tăng hoạt động của các nhà máy, dự án cũng tạo thêm việc làm cho người lao động. Trong 9 tháng, Hà Tĩnh giải quyết việc làm cho hơn 19.300 người, đạt 82,18% kế hoạch năm. Đáng chú ý, việc làm trên địa bàn tỉnh tăng 14,42%, cho thấy thị trường lao động nội tỉnh đang phát huy vai trò chủ lực, góp phần giữ chân người lao động và bù đắp một phần sự sụt giảm từ thị trường ngoại tỉnh. Cùng với nguồn vốn từ doanh nghiệp, đầu tư công tiếp tục là một động lực quan trọng. Hà Tĩnh đã giải ngân trên 6.000 tỷ đồng, đạt gần 69% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Theo lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, vị trí trên trục giao thông Bắc - Nam, hành lang kinh tế Đông - Tây cùng Khu kinh tế Vũng Áng với hệ thống cảng nước sâu là những lợi thế quan trọng để tỉnh phát triển công nghiệp, năng lượng, logistics và kinh tế biển. Những năm qua, Hà Tĩnh tập trung đầu tư hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn trong quá trình triển khai dự án. Nhờ đó, nhiều dự án quy mô lớn đã hoàn thành, đi vào hoạt động và bổ sung các động lực tăng trưởng mới. Sản lượng điện từ Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II cùng sự gia tăng của các sản phẩm ô tô, xe máy điện, thép, pin và ắc quy là những đóng góp rõ nét trong năm nay. HOÀI NAM nghiệm, chấp nhận thay đổi và tìm kiếm cơ hội. Chị Hoàng Anh, 27 tuổi, ở Hà Nội cho biết, sau khi tốt nghiệp đại học chuyên ngành quản trị khách sạn, chị đã trải qua 4 nơi làm việc, từ một khách sạn nhỏ tại Hà Nội, đến lần xa nhà vào Phú Quốc làm việc, vừa để trải nghiệm, vừa tích lũy thêm kinh nghiệm. Hiện chị Hoàng Anh làm việc tại một khách sạn của chủ đầu tư nước ngoài ở Hà Nội, với thu nhập trên 23 triệu đồng/tháng. “Muốn có thu nhập cao, bản thân mình phải cố gắng, không thể chỉ chờ doanh nghiệp tăng lương. Với kinh nghiệm tích luỹ được, mình cũng tự tin tìm kiếm cơ hội để có thu nhập cao hơn”, chị chia sẻ. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, quyền Trưởng ban Thống kê Dân số và Lao động, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, thị trường lao động đang có sự chuyển dịch rõ nét từ những ngành có năng suất thấp sang khu vực có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn. Hiện khu vực dịch vụ sử dụng khoảng 21,6 triệu lao động, chiếm 41% số người có việc làm; công nghiệp và xây dựng có 17,8 triệu lao động, chiếm 33,8%. Đáng chú ý, khoảng 1,6 triệu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế số lõi, chiếm 3,02% tổng số lao động có việc làm, cho thấy chuyển đổi số đang từng bước mở ra những cơ hội việc làm mới, đòi hỏi kỹ năng và hàm lượng tri thức cao hơn. Tuy nhiên, thị trường lao động vẫn còn một số thách thức. Lao động phi chính thức vẫn chiếm 61,5% tổng số lao động có việc làm; tỷ lệ thất nghiệp và không tham gia học tập, đào tạo của thanh niên vẫn ở mức tương đối cao. VIỆT LINH 5 n Thứ Ba n Ngày 6/10/2026 KINH TẾ Lý do tăng trưởng kinh tế Hà Tĩnh vượt các “đầu tàu” 9 tháng năm nay, Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng GRDP 12,36%, đứng thứ 2/34 tỉnh, thành phố trên cả nước. Động lực tăng trưởng không chỉ đến từ sự bứt phá của công nghiệp mà còn từ dòng vốn đầu tư, hoạt động xây dựng, thương mại - dịch vụ và sự phục hồi của nhiều lĩnh vực kinh tế. trường lao động TPHCM. Khi doanh nghiệp mở rộng, nhu cầu tuyển dụng tăng theo, kéo theo nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ, logistics, tài chính, công nghệ, thương mại, xây dựng... Theo ông Chung, FDI là nguồn tạo việc làm quan trọng, nhưng giá trị không chỉ nằm ở số lao động được tuyển trực tiếp. Khi doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào TPHCM, hệ sinh thái cung ứng, dịch vụ và đối tác trong nước cũng có cơ hội phát triển, tạo thêm việc làm gián tiếp cho lao động địa phương. “Doanh nghiệp FDI không chỉ mang theo vốn mà còn mang theo công nghệ, quy trình quản trị và những tiêu chuẩn mới về nhân sự. Đây là cơ hội để lao động Việt Nam tham gia vào những vị trí có yêu cầu chuyên môn cao hơn, từ đó nâng chất lượng việc làm và thu nhập”, ông Chung nhận định. Với đầu tư công, tác động đến việc làm cũng diễn ra theo nhiều tầng. Các dự án hạ tầng lớn trước hết tạo nhu cầu nhân lực xây dựng, kỹ thuật, tư vấn, quản lý dự án, vật liệu. Khi hạ tầng hoàn thiện, lợi ích lan sang thương mại, dịch vụ, logistics, bất động sản và sản xuất, kinh doanh. Nếu triển khai hiệu quả, đầu tư công không chỉ tạo việc làm trong thời gian thực hiện dự án mà còn tạo nền tảng cho nhiều công việc mới về lâu dài. “Một tuyến đường, một cây cầu hay một công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ có ý nghĩa về giao thông. Nó có thể mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp, kéo theo nhu cầu nhân lực và các dịch vụ đi kèm”, ông Chung nói. Tuy nhiên, ông Chung lưu ý tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa mọi người lao động đều tự động có việc làm tốt hơn. Thị trường lao động sẽ phân hóa, doanh nghiệp có xu hướng tìm nhân sự thích ứng nhanh, biết dùng công nghệ, ngoại ngữ, có tư duy dữ liệu và học hỏi liên tục. Với người trẻ và lao động có năng lực, đây là giai đoạn nhiều cơ hội nhưng yêu cầu cũng cao hơn. Doanh nghiệp không chỉ cần thêm người mà cần người đảm nhận những công việc mới, nhất là trong công nghệ, tài chính, logistics, sản xuất hiện đại và quản trị. THANH TÂM “Lợi thế chỉ thực sự trở thành động lực khi được cụ thể hóa bằng quyết sách đúng, hành động quyết liệt và phối hợp hiệu quả. Việc chủ động tháo gỡ điểm nghẽn, đồng hành với doanh nghiệp đã giúp các tiềm năng từng bước được khai thác, tạo thêm dư địa cho tăng trưởng”. Lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh thông tin Khoảng 11,5 triệu lao động chịu tác động của AI Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khoảng 11,5 triệu lao động Việt Nam đang làm những công việc có khả năng chịu tác động của AI tạo sinh (GenAI). Tuy nhiên, kịch bản nhiều khả năng xảy ra là GenAI thay đổi tính chất, nhiệm vụ trong công việc hơn là thay thế con người hàng loạt. Chỉ khoảng 1 triệu lao động đang làm những công việc có tính chuẩn hóa cao, dễ bị AI thay thế hoàn toàn; nguy cơ tự động hóa hoàn toàn, vì vậy chỉ ảnh hưởng dưới 2% lực lượng lao động. Tác động cũng không đồng đều. Lao động trong nhóm hỗ trợ hành chính - văn thư đối mặt với rủi ro cao nhất, trong khi tài chính - bảo hiểm, bán buôn - bán lẻ, thông tin - truyền thông cũng chịu ảnh hưởng đáng kể. Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng chiếm hơn một phần ba số việc làm trên cả nước có khả năng chịu tác động của GenAI. Công nhân làm việc tại nhà máy ở Khu kinh tế Vũng Áng ẢNH: CTV

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==