15 www.tienphong.vn CHUNG BƯỚC VƯƠN XA Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam cần đồng thời củng cố các động lực từ bên ngoài như xuất khẩu, đầu tư và hội nhập, đồng thời tạo thêm sức bật từ thị trường trong nước. Khi năng lực sản xuất, sức mua và hiệu quả sử dụng nguồn lực cùng được cải thiện, nền kinh tế sẽ có nền tảng tốt hơn để duy trì tăng trưởng trong dài hạn. PGS.TS PHẠM THẾ ANH Một động lực cần được phát huy mạnh hơn là khu vực tư nhân trong nước. Doanh nghiệp Việt Nam cần được tiếp cận tốt hơn với vốn, đất đai, dữ liệu, công nghệ, nhân lực và thị trường. Khi doanh nghiệp trong nước lớn mạnh, khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và tạo ra giá trị gia tăng tại Việt Nam cũng sẽ tăng lên. FDI vẫn là động lực quan trọng. Nhưng trong giai đoạn tới, câu hỏi không chỉ là thu hút được bao nhiêu vốn mà Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị từ dòng vốn đó. Chúng ta cần chuyển từ tư duy thu hút FDI bằng mọi giá sang xây dựng hệ sinh thái có liên kết tốt hơn giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, không ít doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở những khâu có giá trị gia tăng thấp như gia công, đóng gói, vận chuyển. Muốn thay đổi, cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, kỹ năng, tiêu chuẩn chất lượng, chuyển đổi số, tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc. Chính sách ưu đãi FDI cũng có thể gắn nhiều hơn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và mua hàng từ doanh nghiệp trong nước. Mục tiêu không phải giảm FDI mà là làm cho dòng vốn này tạo ra tác động lan tỏa lớn hơn. Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng từ nâng cấp công nghiệp, tham gia các khâu có giá trị cao hơn như thiết kế, nghiên cứu và phát triển, logistics, dịch vụ số, quản lý chuỗi cung ứng; đồng thời phát huy thị trường trong nước, đầu tư hạ tầng, kết nối vùng, kinh tế xanh và kinh tế số. Để duy trì tăng trưởng 10% trong thời gian dài, theo tôi có ba vấn đề cần ưu tiên. Thứ nhất là nâng chất lượng thực thi chính sách, với thủ tục nhanh hơn, minh bạch hơn và chi phí tuân thủ thấp hơn. Thứ hai là nâng hiệu quả đầu tư công. Không chỉ quan tâm tỷ lệ giải ngân mà phải chú trọng chất lượng, tác động của dự án đối với logistics, an ninh năng lượng và kết nối vùng. Thứ ba là tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận tốt hơn với vốn, đất đai, dữ liệu, nhân lực và công nghệ, đồng thời hiểu rõ thị trường và tiêu chuẩn trước khi sản xuất. Tăng trưởng cao vì vậy không chỉ là tăng thêm vốn hay dự án. Quan trọng hơn là nâng hiệu quả nguồn lực đang có, tạo thêm giá trị trong nước và hình thành những động lực tăng trưởng mới. Khi đó, mục tiêu tăng trưởng cao mới có thể trở thành năng lực tăng trưởng thực tế và bền vững. PGS.TS PHẠM THẾ ANH (TRƯỞNG KHOA KINH TẾ HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN): NGOẠI THƯƠNG TĂNG TỐC, KÍCH HOẠT SỨC MUA Theo số liệu Cục Hải quan, từ đầu năm đến giữa tháng 9/2026, xuất khẩu đạt 400,8 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 424,3 tỷ USD, tăng 36%. Việc nhập khẩu tăng nhanh hơn đã khiến cán cân thương mại đảo chiều mạnh, từ xuất siêu 13,3 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu 23,5 tỷ USD. Tôi cho rằng không nên nhìn nhận nhập siêu đơn thuần là một tín hiệu tiêu cực. Trong một nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện để mở rộng sản xuất là điều bình thường. Đặc biệt, khi Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, công nghiệp và thu hút những dự án công nghệ cao, nhập khẩu có thể tăng mạnh trước khi năng lực sản xuất mới được hình thành. Điều quan trọng nhất nằm ở chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Nếu hàng nhập khẩu phục vụ những dự án hiệu quả, giúp nâng năng suất và tạo năng lực sản xuất, xuất khẩu mới, nhập siêu hiện tại không hẳn là xấu. Ngược lại, nếu vốn đầu tư chảy vào những lĩnh vực không tạo thêm năng suất, nền kinh tế vừa phải sử dụng nhiều ngoại tệ, vừa khó hình thành nguồn thu ngoại tệ tương ứng trong tương lai. Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý khi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hiện chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu, trong khi nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện và máy móc nhập khẩu. Nếu khu vực tư nhân không tập trung nhiều hơn vào sản xuất, nhất là sản xuất hướng đến xuất khẩu, đầu tư càng lớn có thể càng kéo theo nhu cầu nhập khẩu và ngoại tệ. Theo tôi, tăng trưởng bền vững phải dựa nhiều hơn vào năng suất và hiệu quả đầu tư, thay vì chỉ mở rộng quy mô vốn. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, điều này đòi hỏi sự chuyển dịch thực chất sang đầu tư công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường sử dụng nhà cung ứng trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI. Việt Nam không thể mãi duy trì mô hình xuất khẩu tăng mạnh nhưng giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế còn hạn chế. Nếu một phần ngày càng lớn linh kiện, nguyên liệu được sản xuất trong nước, mỗi đồng xuất khẩu sẽ đóng góp nhiều hơn cho thu nhập, việc làm và năng lực sản xuất quốc gia, thay vì kéo theo nhu cầu nhập khẩu tương ứng. Cũng cần nhìn nhận rằng nội địa hóa không đồng nghĩa với việc phải sản xuất mọi thứ trong nước. Doanh nghiệp cần lựa chọn những công đoạn có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia chuỗi giá trị và tạo ra giá trị gia tăng thực chất. Về chính sách, cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ thủ tục, giảm chi phí Trong 3-5 năm tới, cạnh tranh khu vực sẽ gay gắt hơn, trong khi yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn xanh, dữ liệu và kỹ năng công nghệ ngày càng cao. Vì vậy, Việt Nam cần chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào vốn, lao động và FDI sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, kỹ năng và giá trị gia tăng trong nước. Ông BÙI MINH GIÁP logistics và tạo thuận lợi thương mại. Những cải cách này không chỉ giúp hàng Việt cạnh tranh tốt hơn ở thị trường quốc tế mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Ngoài ra, tiêu dùng trong nước tiếp tục là một trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Tám tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ. Riêng bán lẻ hàng hóa đạt gần 3.948 nghìn tỷ đồng; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 16,4%, du lịch lữ hành tăng 17,1%. Những con số này cho thấy thị trường nội địa tiếp tục mở rộng, tạo dư địa đáng kể cho doanh nghiệp sản xuất, thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, điểm cần chú ý là sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng chỉ còn 7,6%, gần như không cải thiện so với mức 7,5% cùng kỳ năm ngoái. Điều đó phản ánh sức mua thực tế của nền kinh tế chưa có sự bứt phá tương xứng với mức tăng doanh thu danh nghĩa. Đặc biệt, giá nhà ở cao đang làm giảm phần thu nhập có thể dành cho tiêu dùng của nhiều hộ gia đình. Khi một phần lớn nguồn lực phải dành cho nhà ở và những khoản chi thiết yếu, người dân có xu hướng thận trọng hơn với các quyết định mua sắm, nhất là hàng hóa có giá trị lớn. Muốn thúc đẩy tiêu dùng bền vững, không thể chỉ dựa vào những chương trình khuyến mại hoặc kích cầu ngắn hạn. Vấn đề căn bản vẫn là cải thiện thu nhập thực tế, ổn định mặt bằng giá và nâng cao niềm tin của người tiêu dùng vào triển vọng kinh tế. Về dài hạn, sức cạnh tranh của nền kinh tế không thể chỉ được đo bằng quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu hay doanh thu bán lẻ. Điều quan trọng hơn là mỗi đơn vị vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng, mỗi doanh nghiệp nâng được năng suất đến đâu và thu nhập của người dân được cải thiện như thế nào. n Đầu tư công tiếp tục là động lực dẫn dắt, lan tỏa, đóng góp cho tăng trưởng ẢNH: LỘC LIÊN
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==