70 tienphong.vn TỪ THÀNH CÔNG CỦA GIỐNG LÚA… Sau ngày giải phóng, nông nghiệp ĐBSCL đối mặt với muôn vàn khó khăn. Phần lớn diện tích gieo trồng là các giống lúa mùa địa phương canh tác 1 vụ/năm, năng suất chỉ đạt 2,53 tấn/ha. Tổng sản lượng toàn vùng lúc bấy giờ chỉ khoảng 5 triệu tấn lúa mỗi năm, tình cảnh thiếu ăn trầm trọng. Đặc biệt, những năm 19761977, dịch rầy nâu tàn phá trên diện rộng khiến nông dân rơi vào cảnh mất mùa. Trước yêu cầu cấp bách, cố GS Võ Tòng Xuân cùng các cộng sự đã liên hệ với Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) để đưa các giống lúa mới về Việt Nam và nhân rộng, không lâu sau đó đã “đánh bại rầy nâu”, mở ra chương mới cho an ninh lương thực. Năm 1989 đánh dấu cột mốc lịch sử khi sản lượng lúa tăng mạnh, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo. Viện Lúa ĐBSCL (thành lập năm 1977) cũng đẩy mạnh lai tạo các giống lúa nội địa, hàng loạt giống lúa mang thương hiệu OM ra đời, chiếm tới 65-70% diện tích lúa toàn vùng. Một số giống chủ lực cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, đóng góp tới 60-70% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An cho hay, là doanh nghiệp xuất khẩu gạo theo chuỗi giá trị từ khâu gieo sạ đến chế biến, công ty đã hợp tác với Viện Lúa ĐBSCL hơn 15 năm qua, những giống lúa từ Viện Lúa ĐBSCL đã góp phần thay đổi ngành lúa gạo Việt Nam như ngày nay. Bên cạnh đó, giống lúa ST (Sóc Trăng) do Anh hùng lao động, kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các nhà khoa học lai tạo cũng gây tiếng vang lớn khi gạo ST25 nhiều lần dự thi và đoạt giải “Gạo ngon nhất thế giới”, giúp khẳng định và nâng tầm hình ảnh hạt gạo Việt trên trường quốc tế. ĐẾN AN NINH LƯƠNG THỰC CHO QUỐC GIA VÀ THẾ GIỚI Nhờ áp dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến, năng suất và sản lượng lúa tại ĐBSCL không ngừng tăng, trở thành vựa lúa lớn nhất nước, đóng góp 50% sản lượng lúa và hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu, góp phần lớn đưa Việt Nam trở thành một trong 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Theo Thứ trưởng Bộ NN&MT Trần Thanh Nam, lúa gạo không chỉ là ngành hàng quan trọng trong nông nghiệp mà còn là trụ cột đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, ổn định sinh kế cho hàng triệu nông dân, đóng vai trò chủ chốt trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng khắc nghiệt, yêu cầu sản xuất xanh và bền vững trở thành xu thế tất yếu. Đề án Phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030 ra đời thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước và toàn ngành trong chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với BĐKH. Ngay từ khi được phê duyệt, Đề án đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương và sự hưởng ứng của bà con nông dân, doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX). Qua hơn 2 năm triển khai, đã từng bước khẳng định tính đúng đắn và cấp thiết. Diện tích canh tác vùng chuyên canh lúa chất lượng cao phát thải thấp đạt 354.839/180.000 ha, đạt tỷ lệ 197% mục tiêu đề ra. THAY ĐỔI TƯ DUY Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, tư duy sản xuất của nông dân dần thay đổi theo hướng giảm phát thải, tăng giá trị, bảo vệ môi trường. Các quy trình canh tác bền vững như quản lý nước tưới tiên tiến, sử dụng phân bón hợp lý, xử lý rơm rạ được áp dụng ngày càng rộng rãi. Các mô hình thí điểm đạt nhiều kết quả ấn tượng như giảm lượng giống, phân bón, thuốc, nước tưới. Năng suất lúa tăng 12%; chi phí giảm 40%; lợi nhuận trung bình tăng 6 triệu đồng/ha/vụ; giảm lượng phát thải 3-4 tấn CO2/ha/vụ… Quan trọng hơn, các DN và HTX đã quan tâm hơn đến liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng tới xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. Các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển cũng đồng hành, thể hiện sự quan tâm sâu sắc thông qua các chương trình hỗ trợ về kỹ thuật, tín dụng và phát triển thị trường. “Điểm nhấn nổi bật là sự thay đổi trong tập quán canh tác của bà con nông dân. Cùng với giảm chi phí, tăng lợi nhuận so với canh tác truyền thống, nông dân còn tăng hiệu quả kinh tế từ phụ phẩm rơm rạ, đảm bảo sức khỏe và bảo vệ môi trường… nên các thành viên HTX rất đồng thuận, nhiệt tình tham gia, tuân thủ sản xuất theo quy trình được khuyến cáo” - ông Nguyễn Cao Khải - Giám đốc HTX Tiến Thuận (Cần Thơ) chia sẻ. Lãnh đạo Bộ NN&MT đánh giá, với cách làm bài bản, trách nhiệm, Đề án đã bước đầu đạt những kết quả tích cực. Một trong những chuyển biến rõ nét nhất là sự thay đổi về nhận thức của cả hệ thống chính trị và người dân đối với mục tiêu phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo. Đây không chỉ là một chương trình phát triển sản xuất, mà là bước đi quan trọng trong cơ cấu lại ngành hàng lúa gạo vùng ĐBSCL, hướng tới phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, có trách nhiệm với môi trường. “Những kết quả bước đầu góp phần nâng cao giá trị ngành hàng lúa gạo, cũng phù hợp với cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26 đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050, đồng thời góp phần xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam theo hướng xanh - sạch - chất lượng - bền vững…” - nguyên Bộ trưởng Bộ NN&MT Trần Đức Thắng nhận định. n Thu hoạch lúa trên cánh đồng Đề án 1 triệu ha CẢNH KỲ VỰA LÚA Từ chỗ quốc gia thiếu lương thực, Việt Nam vươn lên thành cường quốc lúa gạo. Trong hành trình đó, vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia và thế giới, tiên phong trên toàn cầu vì nền nông nghiệp xanh, bền vững. & NÔNG NGHIỆP Theo ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ: “Với vai trò trung tâm động lực vùng ĐBSCL, Cần Thơ vinh dự được chọn thí điểm mô hình đầu tiên của Đề án 1 triệu ha. Qua 2 năm triển khai, chúng tôi xác định rõ rằng, thành công của Đề án chỉ có thể đạt được khi các bên liên quan như nhà nước - doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân - nhà khoa học - hiệp hội ngành hàng cùng nỗ lực tham gia, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ảnh hưởng của hạn, mặn và rủi ro thị trường ngày càng lớn, việc xây dựng một hệ sinh thái lúa gạo xanh chất lượng cao - phát thải thấp - gắn kết chuỗi giá trị không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà còn là trách nhiệm xã hội và cam kết quốc tế của Việt Nam. Chúng tôi cũng xác định người nông dân vẫn luôn là trung tâm của quá trình chuyển đổi, và doanh nghiệp là động lực của chuỗi giá trị”. KHÁT VỌNG VIỆT NAM
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==