63 tienphong.vn NHÀ VĂN TRƯƠNG ANH QUỐC VÀ TÌNH YÊU BIỂ N ĐẢ O Bạn bè hay hỏi tôi, vì sao lại chọn viết về biển? Và, tôi viết về biển chắc là do cái duyên đi biển của mình… Tôi vốn dĩ theo ngành kỹ thuật, không được học chuyên ngành văn học, chưa qua lớp viết văn bài bản nên việc viết văn với tôi chẳng hề dễ dàng. Yêu thích rồi đến với văn chương tuy hơi muộn nhưng tôi nghĩ muộn còn hơn không. Trong rủi có may. May mắn do ít người viết về biển, dẫu có thì họ chỉ đứng trên bờ nhìn biển để viết. Còn tôi được trầm mình trong biển cả, đại dương, cùng sống, cùng lăn lộn với đồng nghiệp đi biển mà viết. May mắn là tập truyện ngắn đầu tay Sóng biển rì rào đoạt giải Nhì cuộc thi Văn học tuổi 20 lần III năm 2005 do Hội nhà văn TPHCM, Nhà xuất bản Trẻ và báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức. Bước ra từ cuộc thi này, tôi viết thuận lợi hơn, sau đó còn được nhà văn Hồ Anh Thái, nhà văn Nguyễn Đông Thức khích lệ, động viên, khuyên bảo tôi phát huy thế mạnh viết về biển. Trong quá trình mày mò tìm đường dấn thân và nhập cuộc văn chương, tôi có dịp gặp gỡ, trò chuyện, học hỏi những nhà văn tiền bối. Nhà văn Ma Văn Kháng hay nói “sống rồi mới viết”, còn nhà văn Nguyễn Xuân Khánh thì nói thẳng: Trong văn chương nghệ thuật không chấp nhận thứ làng nhàng. Chỉ những cái “chóp” mới được tính đến. Như vậy, đi cùng văn chương càng không dễ, phải nỗ lực tối đa mới mong có sản phẩm “chóp” ấy. Tôi ngộ ra rằng, chỉ có thể viết hay khi thật sự am hiểu về vấn đề đó. Nếu không, trang viết sẽ hời hợt và rỗng, dù có múa may đến mấy bạn đọc cũng nhận ra. Với lợi thế đi biển của mình, tôi viết về những gì mình biết, tuy nó còn thô ráp hương vị muối biển. Những thứ quen thuộc với tôi nhưng với bạn đọc, tôi tin rằng sẽ mới lạ. Trên biển, việc viết không dễ dàng do công việc bận bịu, nặng nhọc lại thường xuyên gặp sóng gió, bão tố. Nhiều khi gặp sóng lừng, con tàu bất thình lình bị bứng lên cao hàng chục mét rồi đột ngột rơi tự do xuống lòng biển với độ sâu còn hơn như thế. Lúc đó đầu óc quay cuồng, ói mật xanh mật vàng, dành tất cả sức lực cầm cự với sóng gió đã khó. Sóng lên sẽ không tài nào ngủ được, đầu óc quay cuồng, lơ lửng chín tầng mây. Những lúc ấy cảm hứng lại tới ào ạt, đầy ứ, choáng hết mọi suy nghĩ và phải gượng dậy viết. Nếu không viết, bao nhiêu ý tưởng nẩy ra trong đầu sẽ trôi theo sóng biển. Một khi đã quên, nhất là trong lúc sóng gió sẽ không bao giờ nhớ lại được. Trên biển có thuận lợi là không bị các thứ lặt vặt chi phối. Tập trung nên viết nhanh. Nhưng trên biển cũng có nhiều bất lợi. Không có sóng điện thoại, sóng mạng nên không thể tra cứu, xác minh thông tin. Tôi bám đề tài biển viết miệt mài. Trời chẳng phụ công. Năm 2010, tôi tiếp tục tham dự cuộc thi Văn học tuổi 20 lần IV với tiểu thuyết Biển. Gửi bản thảo trong một lần tàu ghé bờ. Bản thảo đến nơi vừa kịp hạn và may mắn là cuốn tiểu thuyết đoạt giải cao nhất. Thừa thắng xông lên, tôi viết tiếp tiểu thuyết du ký Sóng và gần đây là tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng. Cuốn Trùng khơi nghe sóng, tôi đã dành bảy năm đi làm giàn khoan để lấy tư liệu và vốn sống. Hai cuốn sách này đều được giải thưởng của Hội Nhà văn TPHCM. Thật may mắn. cả 4 cuốn sách tôi viết về biển đều giành giải thưởng. May mắn này không hoàn toàn ngẫu nhiên mà có. Tôi đã cố gắng học hỏi, đổi mới trong từng trang viết của mình qua thời gian. Theo tôi, văn chương cần sự suy gẫm và chiêm nghiệm, như men rượu ủ càng lâu, rượu sẽ càng ngon. Tôi cảm ơn nghề đã cho tôi hiểu biết, vốn sống và trải nghiệm. Cảm ơn văn chương đã mang lại cho tôi những phút giây thăng hoa và nhiều bạn bè cùng đam mê. Tôi biết may mắn không thể có mãi nên càng ngày tôi càng phải có trách nhiệm hơn với trang viết, cho chính mình và bạn đọc. Biển mang đến nguồn hải sản, tài nguyên dầu khí cho các quốc gia, mang đến con đường thông thương lớn nhất cho nhân loại thì với riêng tôi, biển còn mang đến chất liệu cho những trang văn. Tôi được cùng biển đi rong ruổi khắp thế giới, được chứng kiến biển và cuộc sống con người trên biển thời hội nhập quốc tế. Không có biển, chắc chắn sẽ không có Nhà văn Trương Anh Quốc”. n Nhà văn Trương Anh Quốc từng đoạt nhiều giải thưởng văn học. Các tác phẩm của Trương Anh Quốc đều viết về chủ đề biển đảo. Nhà văn Trương Anh Quốc và tác phẩm đoạt giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM 2025 NỮ ĐẠO DIỄN LAN NGUYÊN: “TÔI CHỌN LÀM PHIM TÀI LIỆU” Tôi không chọn phim tài liệu theo nghĩa tính toán. Tôi đến với phim tài liệu vì đó là hình thức duy nhất cho phép tôi ở lại lâu với một câu hỏi, một con người hay một nỗi day dứt mà tôi chưa có câu trả lời. Tôi bắt đầu làm phim tài liệu khi trên truyền hình, các gameshow bùng nổ. Các bộ phim tài liệu trở thành thứ gì đó xa xỉ, không ai coi và bị cắt dần đi, nhường đất cho gameshow. Nhưng tôi vẫn tin có những bộ phim tài liệu sẽ luôn mang đến những giá trị riêng. Tôi bắt đầu với nhạc sĩ Trần Tiến trong giai đoạn này và làm theo cảm nhận của tôi. Có những ngày tôi chẳng làm gì, chỉ ngồi nghe lại những điều bác Trần Tiến chia sẻ. Tôi đã khóc như chưa từng được khóc. Tôi làm phim về Trần Tiến mà có cảm giác như tôi làm cho chính tôi. Bộ phim tài liệu đầu tiên của tôi thành công là động lực để tôi tiếp tục. Những bộ phim tôi làm không phải vì câu chuyện quá đặc biệt mà vì tôi nhìn thấy chính mình trong sự mong manh, tổn thương hoặc lạc lõng của nhân vật, hoặc nhân vật đó có một “sự kết nối” với tôi. Ví dụ như bác Trần Tiến chính là nhạc sĩ trong ký ức tuổi thơ tôi. Sự đồng cảm đó không đến ngay. Nó cần thời gian, cần sự kiên nhẫn và đôi khi cần cả sự im lặng. Phim tài liệu không cho tôi nhiều ánh hào quang, cũng không cho cảm giác thành công nhanh. Nó cho tôi một thứ rất quan trọng: Sự trung thực với chính mình. Và tôi nghĩ, nếu mình không đủ trung thực với câu chuyện mình kể thì khán giả cũng sẽ cảm nhận được điều đó. Tôi làm phim tài liệu như một cách lắng nghe. Khi bắt đầu một dự án, tôi không tìm “nhân vật hay”, mà tìm sự đồng cảm. Về mối quan hệ giữa đạo diễn và nhân vật, tôi luôn tin rằng dấu ấn của đạo diễn không nằm ở việc “lấn át”, mà nằm ở cách đặt mình ra sau. Tôi không cố kiểm soát nhân vật, cũng không cố ép họ trở thành điều tôi tưởng tượng. Tôi chỉ quan sát họ và kể lại câu chuyện của chính họ. Và may mắn rằng, trong suốt quá trình làm phim, tôi chưa từng có mâu thuẫn với bất cứ nhân vật nào, có lẽ vì quan niệm “chỉ lặng lẽ quan sát nhân vật” của tôi đã đúng. Kỷ niệm đáng nhớ nhất trong mỗi bộ phim thường không phải là những cảnh quay đẹp mà là những khoảnh khắc rất nhỏ: Một câu nói bật ra ngoài kịch bản, một ánh mắt im lặng, hay một lần tôi nhận ra mình đã thay đổi sau hành trình đó. Với các bộ phim tôi đã thực hiện, có những khoảnh khắc tôi hiểu rằng bộ phim này không chỉ là hành trình của nhân vật mà cũng là hành trình đi tìm cội nguồn của chính tôi. Đó là kỷ niệm lớn nhất, đáng giá nhất. Và sâu xa hơn, cội nguồn đó không phải của riêng tôi mà còn của khán giả. Có lẽ vì thế mà các bộ phim đã được khán giả đón nhận. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn mà phim tài liệu không còn đứng bên lề của điện ảnh nữa. Phim tài liệu ngày càng đa dạng về hình thức, cởi mở hơn về ngôn ngữ kể chuyện, và chạm đến những câu hỏi rất riêng tư của con người hiện đại. Trong tương lai, tôi tin phim tài liệu sẽ không chỉ tồn tại như một thể loại, mà như một “thái độ làm phim” - nơi sự thật, cảm xúc và trách nhiệm đạo đức song hành với sáng tạo. Và, tôi vẫn kiên định với con đường làm phim tài liệu này. Những bộ phim tiếp theo của tôi sẽ rất khác, không hoàn toàn thuần tài liệu nữa nhưng tôi tin phim tài liệu là tài sản vô giá của một đất nước, mà nhiều năm sau, ta sẽ thấy rất rõ. n Nữ đạo diễn Lan Nguyên được đánh giá là “hiện tượng lạ” khi có tới 3 bộ phim tài liệu chiếu rạp là Màu cỏ úa - bộ phim khắc họa chân dung nhạc sĩ Trần Tiến qua dấu ấn âm nhạc; Những vết thương lành nói về các hoạt động xã hội của nhạc sĩ Ngọc Lễ; đạo diễn, bác sĩ, phóng viên chiến trường Nguyễn Thị Xuân Phượng; nhà bảo tồn Nguyễn Văn Thái và nhà hoạt động xã hội Nguyễn Thị Vân và phim Chân trời rực rỡ về ca sĩ Hà Anh Tuấn. Nữ đạo diễn Lan Nguyên VĂN HÓA - VĂN NGHỆ
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==