51 tienphong.vn SÁNG TÁC Sau đó, bước chân đưa anh lang thang vô định. Anh thấy mình đứng trước một ngôi nhà nhỏ nằm ngay chân cầu, bên hiên treo tấm biển bạc màu: “Tạp hóa Thanh”. Mùi hương của cá khô, xà phòng và dầu gió thoang thoảng từ cửa hiệu khiến Nam thấy tim mình thắt lại. Một người đàn bà trung niên đang bận rộn xếp lại những bao đường. Khi chị ngẩng lên, thời gian dường như ngưng đọng. Gương mặt Thanh! Gương mặt người xưa đã hằn sâu những vết chân chim. Bàn tay thô ráp của một người phụ nữ lam lũ, nhưng đôi mắt - đôi mắt trong veo như nước rằm tháng Chạp năm nào - thì vẫn thế. “Anh Nam... Có phải anh Nam không?” - Thanh buông rơi túi đường, giọng run rẩy. Họ ngồi lại với nhau bên bộ bàn ghế gỗ cũ phía sau tiệm tạp hóa. Thanh kể về những năm tháng làm dâu khổ cực, về người chồng già đã mất vì bạo bệnh “ông ấy cũng là người tốt, anh à”. Và về đứa con trai duy nhất tên Duy. Duy năm nay 19 tuổi, nó có gương mặt giống hệt mẹ nhưng lại có niềm đam mê âm nhạc kỳ lạ. Nó tự học guitar qua mạng và thường ngồi bên bờ kinh thổi sáo một mình. Cậu trai râu ria lún phún đi vào chào khách. Đôi mắt lạ lẫm trước người đàn ông trở về từ phương trời xa, nhưng ánh lên cái nhìn thiện cảm. Có thể đó là phong độ, cách sống cởi mở của người phương Nam. Có thể một dự cảm của những người cùng yêu âm nhạc. Và cùng yêu một người đàn bà. Một bên là tình mẹ còn một bên là tình yêu. Nhưng có gì khác nhau đâu… Nam nhìn Duy, anh thấy lại hình bóng của chính mình ba mươi năm trước - một cậu bé nghèo với giấc mơ âm nhạc cháy bỏng giữa vùng đất phù sa. Trong một khắc, Nam quyết định không về Đức nữa. *** Người ta thấy một người đàn ông không còn trẻ nhưng hoạt bát sôi nổi ra vào ngôi nhà nhỏ bên dòng nước. Ông đã thay bộ quần áo cứng đơ của một “Việt kiều” bằng bộ nâu rộng rãi. Ông đã thay giọng nói lơ lớ, pha tạp âm điệu và từ ngữ Bắc, Trung và cả tiếng nước ngoài bằng ngôn ngữ miệt vườn thân thuộc. Ông được ăn lại những món mắm món tươi tôm cá rau bông mà tưởng như đã quên. Ông như được hồi sinh. Một buổi tối ấm áp trong ánh đèn sáng soi rực cả một khúc sông. Mùi thức ăn nóng bốc khói và mùi rượu đế khơi gợi. Tiếng đờn tiếng hát vang vọng. Ông Nam và bà Thanh làm lễ ra mắt bà con chòm xóm. Đã có những đứa trẻ mới lớn tới chúc mừng “ông bà”, nhưng người lớn mắng át đi, kêu trẻ vậy phơi phới vậy thì tụi bay gọi “anh chị là được rồi”. Tiếng cười lan trên sông. Thằng Duy và bạn gái của nó tươi tỉnh chạy đôn chạy đáo tiếp rượu tiếp nước tiếp mồi đến đêm. Nam dùng toàn bộ số tiền tích góp được từ những năm tháng khốn khó làm lụng và dạy nhạc ở Berlin để cùng người đàn bà xưa của mình mở rộng cửa hiệu tạp hóa thành một không gian nhỏ. Vẫn có những món hàng lặt vặt ít tiền quen thuộc, nhưng còn có cà phê nước ngọt. Và một gian rộng phía sau nhìn ra cây cầu nước xuôi, nơi đầu tiên anh đặt tên là dự án “Âm nhạc cho mọi người”. Nhưng Duy, cậu trai cười “Dự án dự đồ chi dượng, quê người ta sợ. Dượng cứ kêu “Cùng hát cùng đờn” người ta mới thích!”. Đó không chỉ là một lớp học như ẩn ý của ông Nam, mà là một mái nhà chung. Chung lời ca tiếng nhạc. Chung tình quê ấm lòng. Ông mang những chiếc đàn piano, violin cũ từ Đức về, kết hợp với đàn bầu, đàn tranh mà thằng Duy kiếm đâu được từ những nghệ nhân già đã bỏ không từ lâu. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, người ta nghe thấy lại bà Thanh ca vọng cổ. “Lâu lắm xa rồi mình lại gặp nhau Hai đứa không còn ngày vui bên nhau Giờ em vui bước bên ai Còn tôi lòng vẫn chưa phai Mối tình xưa nhiều chua cay. Em có thương gì kỷ niệm đầu tiên Hai đứa xây mộng một ngày nên duyên Đời anh sương gió gian nan Đời em lụa gấm cao sang Nên mối tình vô vọng lìa tan”. Ông Nam ngồi bên liếc xéo “Hát cái lời chi buồn vậy. Lìa tan khi nào?” Bà Thanh chợt nhận ra, lúng túng mắc cỡ “Tui hát kệ tui. Là tui hát cho… ai ngoài kia, mắc chi tới ông?” Cả hai cùng nhìn ra dòng sông. Cười nhẹ. Phía xa, một con thuyền mong manh dập dờn. Rồi bỗng một câu hò vẳng lại: “Hò ơ ….. Thật lòng lời nói thấm đau ra đi biệt xứ dâng trào niềm thương không đâu sánh với quê hương nghe câu vọng cổ, hò ơ…. nghe câu vọng cổ muốn tìm đường về quê ……” *** Hàng ngày, người dân quanh dòng sông đã quen với hình ảnh một "ông Việt kiều" gầy gò, tóc đã điểm bạc, say sưa dạy những đứa trẻ nghèo cách đọc nốt nhạc và cách lắng nghe nhịp thở của dòng sông. Ông Nam đặc biệt dành nhiều thời gian cho Duy. Không bao giờ nói ra, nhưng ông đã thầm coi nó như đứa con ruột. Ông truyền dạy cho cậu trai không chỉ kỹ thuật âm nhạc phương Tây mà còn là cái hồn cốt của âm nhạc dân tộc. Ông mừng thấy Duy học rất nhanh, đôi bàn tay của nó lướt trên phím đàn đầy cảm xúc, như một sự kế thừa định mệnh. Bà Thanh hay đứng kín sau quầy tạp hóa, nghe tiếng nói và tiếng nhạc từ hai người đàn ông mà mình thương cả một đời. Có những buổi chiều, khi tiếng đàn của hai thầy trò vang vọng khắp xóm nhỏ, bà Thanh khẽ hát theo những giai điệu quen thuộc. Ông nhìn bà, nhìn nụ cười của bà giờ đây đã bớt đi những nếp nhăn u uất. Ông nhận ra rằng, dù tình yêu của họ trải qua trắc trở vẫn thành đôi. Như loài hoa chỉ nở muộn trong đêm nhưng mùi hương thầm thì dai dẳng. Có lần, ông Nam ngồi bên bờ kênh, nhìn hoàng hôn buông xuống đỏ rực cả một vùng sông nước. Ông lấy ra cuốn sổ tay, viết tiếp những dòng thơ đã khởi đầu từ những đêm đông xứ người lạnh lẽo: “Dòng sông vẫn chảy về phương cũ, Lòng người thôi hết những lênh đênh. Âm nhạc là đây, quê hương đó, Gác lại u sầu, bước nhẹ tênh. Phù sa bồi đắp cho bờ bãi, Tiếng đàn sưởi ấm những đời đau. Ta về nhặt lại thời thơ dại, Cho nụ cười xanh đến bạc đầu”. Ông thấy lòng mình bình yên đến lạ. Không còn thấy dằn vặt vì những năm tháng khổ cực, vì ông hiểu chính những đau thương đó đã tôi luyện nên một tâm hồn nghệ sĩ đủ sâu sắc để hiểu và yêu mảnh đất này. Những tối cuối tuần, “Tạp hóa Thanh” lại trở thành tụ điểm văn hóa. Những người nông dân tay lấm chân bùn kéo đến để nghe “thầy Nam” chơi đàn và xem “thằng Duy” biểu diễn. Âm nhạc đã làm thay đổi không khí của cả một vùng quê, mang lại niềm vui lành lặn cho những con người vốn chỉ biết đến lo toan nắng gió. Rồi một ngày, Duy bỗng ngỏ lời với ông Nam. Anh dự định sẽ thực hiện một chuyến lưu diễn nhỏ khắp các tỉnh miền Tây, mang dự án “Cùng hát cùng đờn” đi xa hơn nữa. Anh muốn mỗi đứa trẻ nghèo đều có cơ hội chạm tay vào âm nhạc, để chúng biết rằng thế giới ngoài kia rộng lớn nhưng quê hương mới là nơi nâng cánh cho những giấc mơ. “Dượng sẽ đi với con chứ?” Một cái gật đầu. Màn đêm buông xuống trên dòng sông, từ ngôi nhà ven cầu có ngọn đèn sáng. Tiếng đàn lại vang lên, dìu dặt và bao dung như vòng tay của mẹ. Ông Nam biết, linh hồn người mẹ của ông và cả những năm tháng nhọc nhằn ở nước Đức xa xôi giờ đây đã có thể mỉm cười. Bởi vì, sau bao nhiêu giông bão, người con viễn xứ đã thực sự được “về nhà”, được sống giữa tình yêu gia đình và chòm xóm. Và của chính mảnh đất phù sa và những con nước mà ông hằng yêu Đó chính là bản giao hưởng tuyệt vời nhất của cuộc đời - bản giao hưởng của sự trở về và hồi sinh. n Cha tôi đó, dân làng tôi vậy đó xả hết mình khi nước gặp tai ương rồi thanh thản trở về với ruộng sống lặng yên như cây cỏ trong vườn Cha tôi đó, suốt đời thồ nặng trĩu cả hai vai việc nước - việc nhà bom rồi bão, mấy lần nhà sập lụi cụi tuổi già, con cháu đã đi xa “Cầu Bố” (thơ Nguyễn Duy - lời đề từ “Quê nội, 9-1983”) Trong những ngày tháng Tư, khi gió heo may se lạnh thổi qua những con đường ngập tràn cờ hoa, người ta hay nhắc đến hình ảnh người mẹ. Mẹ là những bà cụ tóc bạc ngồi bên bếp lửa, tay se chỉ vá áo cho con trai ra trận. Mẹ là nỗi đau thầm lặng, là hy sinh âm thầm, là biểu tượng của sự chịu đựng và kiên cường. Thế nhưng, ít ai dừng lại để nhìn sâu hơn vào bóng dáng người cha - người cha trong những năm tháng đất nước gian nguy, khi bom đạn gầm rú và hòa bình còn là một giấc mơ. Người cha ấy có thể là người lính trực tiếp cầm súng, nằm trong những hầm trú ẩn ẩm ướt của Trường Sơn, tay siết chặt khẩu AK, mắt nhìn về Bắc mà lòng nhớ vợ con da diết. Có đêm, ông không ngủ, không phải vì sợ đạn pháo, mà vì lo cho đứa con trai còn đang bập bẹ tập nói ở quê nhà. Ông viết thư bằng những dòng chữ run run trên giấy cũ, không dám kể hết nỗi khổ, chỉ mong “mẹ con giữ gìn sức khỏe, cha về sẽ bù đắp”. Ông là người cha ấy, người mang trên vai cả gia đình và cả dân tộc, bước đi trong mưa bom bão đạn mà không một lời than van. Người cha ấy là người ở hậu phương, ngày con trai lên đường nhập ngũ, cha đứng bên xe chở quân, tay nắm chặt vai con, giọng trầm trầm: “Con đi cho vững, cha ở nhà lo cho mẹ và các em”. Không nước mắt, không ôm hôn, chỉ một cái siết tay thô ráp đầy chai sạn. Ông trở về nhà, lặng lẽ cuốc đất, cày ruộng dưới nắng cháy da, trồng thêm luống khoai, luống sắn để có gạo gửi ra chiến trường. Những đêm khuya, ông ngồi hút điếu thuốc lá cuốn, mắt nhìn ra khoảng trời tối om, lòng thầm cầu mong con trai mình đừng trở thành một cái tên trên bia đá. Ông không phải anh hùng, ông chỉ là người cha bình thường, nhưng chính ông đã gánh cả bầu trời gia đình khi con trai vắng nhà. Cũng có những người cha khác, trên công trường, trong xưởng máy, ngoài đồng ruộng xa xôi. Họ là những người thợ hàn, người lái xe tải chở lương thực, người cuốc đất đào hầm, người gùi gạo qua đèo. Mồ hôi ướt đẫm áo, vai gầy guộc, nhưng họ vẫn cười, vẫn hát. Họ biết rằng, mỗi mét đường, mỗi kilogram gạo, mỗi viên đạn được đưa ra tiền tuyến đều là một phần máu thịt của chính họ. Họ hy sinh không chỉ tuổi trẻ, mà cả sức khỏe, cả những năm tháng. Khi chiến tranh kết thúc, nhiều người trong số mang vết thương suốt đời, nhưng họ chưa bao giờ đòi hỏi được ghi công. Ngày 30 tháng 4, khi cả nước mừng thống nhất, tôi lại nghĩ về những người cha ấy. Họ không có tượng đài riêng, không có nhiều những câu thơ bi tráng viết về mình. Họ lặng lẽ như những gốc cây cổ thụ, cắm rễ sâu vào đất mẹ, che chở cho cả một thế hệ. Nhờ họ, người mẹ mới có thể ru con bằng lời ru êm đềm giữa bom rơi đạn nổ. Nhờ họ, đất nước mới có ngày sum vầy. Hôm nay, khi hòa bình đã ngự trị hơn nửa thế kỷ, tôi muốn dành một góc trời nhỏ trong lòng mình cho người cha. Cho người cha đã từng cầm súng, đã từng tiễn con ra trận, đã từng vất vả trên đồng ruộng và công trường. Ông không cần huy chương, không cần lời ca ngợi. Chỉ cần chúng ta - những thế hệ sau - nhớ rằng, trong những ngày gian khổ nhất của dân tộc, người cha cũng đã ở đó. Thầm lặng, kiên cường, và yêu thương vô bờ. Hôm nay, những người cha ấy nhiều người đã khuất, nhiều người còn sống với vết thương cũ. Họ là những ông già tóc bạc ngồi bên hiên nhà, kể chuyện xưa cho cháu nghe bằng giọng trầm ấm. Họ lặng lẽ nhìn con cháu lớn khôn, nhìn đất nước đổi mới, và mỉm cười. Nhưng trong lòng họ, vẫn còn nguyên vẹn những đêm Trường Sơn mưa bom, những buổi chiều đồng ruộng nắng cháy, những lá thư gửi về quê nhà chưa kịp gửi. Hãy để tháng Tư là tháng của những hồi ức sâu lắng. Hãy kể cho con cháu nghe về người cha - không chỉ là người anh hùng, mà là người cha bình dị nhất, vĩ đại nhất. Vì chỉ khi nhớ rõ nguồn cội, chúng ta mới biết trân trọng hòa bình hôm nay. n Người cha không tượng đài NGUYỄN BÌNH KHA
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==