49 tienphong.vn KHÁT VỌNG VIỆT NAM TRỤ VỮNG NƠI QUYẾT CHIẾN ĐIỂM Sông Lòng Tàu dài khoảng 35km, rộng từ 300 đến 600m, nối Biển Đông với cảng Sài Gòn, từng là tuyến vận tải quân sự trọng yếu trước năm 1975, nơi phần lớn hàng hóa, nhiên liệu và trang bị của đối phương phải đi qua trước khi vào nội đô. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, khi các cánh quân chủ lực tiến nhanh từ nhiều hướng, tuyến sông này vẫn giữ vai trò đặc biệt trong bảo đảm hậu cần, vì vậy việc khống chế Lòng Tàu trở thành một mắt xích quan trọng trong thế bao vây từ xa. Nhiệm vụ ấy được giao cho Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác - những người lính hoạt động trong một môi trường đặc thù, nơi yếu tố địa hình và quy luật tự nhiên chi phối gần như toàn bộ cách đánh. Được thành lập tại chiến khu Rừng Sác vào ngày 15/4/1966, với phương châm “Rừng Sác là nhà, bến cảng kho tàng là trận địa, sông Lòng Tàu là quyết chiến điểm”, từ đó đến năm 1975, đơn vị đặc biệt này đã duy trì nhịp độ tác chiến liên tục, tập trung đánh phá giao thông đường thủy. Trong hồi ký của mình, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước (thường gọi là Bảy Ước) nhắc đến những cuộc chạm trán với cá sấu như một phần của chiến trường. Có chiến sĩ bị táp khi đang vượt sông, phải dùng dao găm đâm vào mắt con vật mới thoát được, sau đó mang thương tích nặng; có người mất tích giữa dòng nước, nhiều ngày sau chỉ tìm được sợi dây thắt lưng còn sót lại… Chính trong điều kiện đó, một phương thức tác chiến đặc thù đã hình thành. Đặc công nước không đối đầu trực diện mà dựa vào bí mật, bất ngờ, tận dụng địa hình và quy luật tự nhiên để tiếp cận mục tiêu. Mỗi trận đánh đều bắt đầu từ nhiều ngày trinh sát, theo dõi quy luật di chuyển của tàu, thời gian neo đậu, mức độ cảnh giới, đồng thời tính toán con nước để bảo đảm tiếp cận và rút lui. Những đòn đánh thường có quy mô nhỏ, như gài thuốc nổ dưới thân tàu, đánh phá phương tiện vận tải. Chính sự lặp lại liên tục đã tạo sức ép dài hạn lên hệ thống hậu cần của đối phương. Ngay từ năm 1966, Đoàn 10 đã đánh chìm tàu vận tải quân sự Baton Rouge Victory bằng thủy lôi trên khu vực sông Ngã Bảy - Lòng Tàu, gây thiệt hại lớn về phương tiện và hàng hóa. DẤU ẤN NGƯỜI ANH CẢ Trong một chiến trường mà địa hình quyết định phần lớn thành bại, người chỉ huy không thể tách rời thực địa. Đại tá Bảy Ước đã tham gia kháng chiến từ sớm, sau đó tập kết ra Bắc rồi trở lại miền Nam năm 1965, đảm nhiệm cương vị Đoàn trưởng Đoàn 10. Dưới sự chỉ huy của ông, đơn vị đã đánh chìm và phá hủy hàng trăm tàu, tiêu diệt hơn 6.000 tên địch, góp phần làm gián đoạn tuyến vận tải trên sông Lòng Tàu. Điểm nổi bật trong cách chỉ huy của Bảy Ước không nằm ở mệnh lệnh áp đặt, mà ở sự am hiểu thực địa và sự thận trọng trong từng quyết định. Ông thường trực tiếp đi trinh sát cùng chiến sĩ, quan sát từng khúc sông, ghi nhớ quy luật con nước, từ đó lựa chọn phương án tiếp cận phù hợp. Một trận đánh của đặc công nước không bắt đầu khi tiếp cận mục tiêu, mà từ nhiều ngày trước đó, khi các yếu tố về địa hình, thời điểm và quy luật hoạt động của đối phương được nắm chắc. Cách chỉ huy ấy thể hiện rõ trong trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ cuối năm 1972. Đây là hệ thống được bảo vệ nhiều lớp với rào thép gai, mìn, đèn chiếu sáng, chó nghiệp vụ và lực lượng canh gác dày đặc, được xem là mục tiêu rất khó tiếp cận. Đơn vị đã tổ chức trinh sát nhiều lần, có thời điểm phải nằm ém ngay trong khu vực rào, có lần bị phát hiện buộc phải rút lui, thậm chí có chiến sĩ hy sinh trong quá trình tiếp cận. Sau nhiều lần như vậy, một điểm yếu được xác định, và quyết định đánh được đưa ra khi thời cơ chín muồi. Theo hồi ký của Đại tá Bảy Ước, đêm 11 rạng ngày 12/12/1972, tổ đặc công của ta bí mật tiếp cận, chui sâu vào khu vực kho và buộc phải nằm lại giữa ban ngày để giữ bí mật. Có thời điểm họ phải hạn chế mọi cử động, thậm chí chuẩn bị cả gừng để tránh ho, giữ tuyệt đối im lặng trong lòng địch. Trong một tình huống bất ngờ, tổ đặc công chạm mặt lính canh ngay trong khu vực kho, nhưng bằng cách xử lý nhanh và giữ bình tĩnh, họ tránh được việc lộ vị trí. Đêm xuống, các khối thuốc nổ được đặt vào những vị trí trọng yếu theo nguyên tắc gây nổ dây chuyền. Rạng sáng hôm sau, các vụ nổ xảy ra liên tiếp, phá hủy 80 kho với khoảng 60.000 quả bom (tương đương khoảng 18.000 tấn), gây thiệt hại lớn và làm gián đoạn nghiêm trọng nguồn cung vũ khí của đối phương. Trận đánh này không chỉ thể hiện hiệu quả của phương thức tác chiến đặc công, mà còn cho thấy vai trò của người chỉ huy trong việc lựa chọn thời điểm, giữ bí mật và bảo toàn lực lượng. Ngày 23/9/1973, Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy nhiên, phía sau những chiến công là những mất mát không dễ nhìn thấy. Hơn 800 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh, nhiều người không tìm được hài cốt do điều kiện chiến trường đặc biệt. Ngày 30/4/1975, khi các cánh quân tiến vào trung tâm Sài Gòn, những người lính đặc công Rừng Sác vẫn ở lại với nhiệm vụ của mình, hoàn thành phần việc theo một cách thức khác, ít được nhìn thấy nhưng không kém phần quan trọng. Ngày nay, Rừng Sác đã trở thành khu dự trữ sinh quyển, đời sống thay đổi nhiều so với trước đây. Những con đường mới mở, tàu thuyền qua lại tấp nập, không còn dấu tích rõ ràng của một chiến trường. Nhưng với những người từng chiến đấu ở đây, mỗi dòng nước vẫn gợi lại ký ức về một thời mà chiến tranh diễn ra trong lặng lẽ nhưng tác động sâu vào cục diện chung. n Phá hủy hàng trăm tàu quân sự đối phương Đại tá Lê Bá Ước (Bảy Ước) sinh năm 1931 tại tỉnh Rạch Giá cũ, nay là tỉnh Kiên Giang. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945 và từng hoạt động tình báo trong kháng chiến chống Pháp. Sau thời gian tập kết ra Bắc, năm 1965 ông trở lại miền Nam, trực tiếp tham gia chiến trường Rừng Sác. Tại đây, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị Phó Chính ủy, Chính ủy rồi Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác - lực lượng đặc công nước chủ lực hoạt động trên tuyến sông Lòng Tàu. Dưới sự chỉ huy của ông, đơn vị đã đánh chìm và phá hủy hàng trăm tàu quân sự, đánh kho bom Thành Tuy Hạ, kho xăng Nhà Bè và nhiều mục tiêu chiến lược khác, góp phần làm tê liệt hệ thống hậu cần của đối phương. Sau năm 1973, ông tiếp tục giữ cương vị Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, ông công tác tại Bộ CHQS tỉnh Đồng Nai. Năm 2012, Đại tá Lê Bá Ước được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông qua đời năm 2016, được đồng đội gọi là “người anh cả của Rừng Sác”. “Một trận đánh thành công không chỉ là phá được mục tiêu, mà phải đưa anh em đi đủ, về đủ”. CỐ ĐẠI TÁ, ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN LÊ BÁ ƯỚC Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Lê Bá Ước giao nhiệm vụ cho 8 chiến sĩ trước giờ thực hiện đánh kho xăng Nhà Bè (ảnh tư liệu gia đình cung cấp) Đại tá Lê Bá Ước đến thăm và chụp hình lưu niệm với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, năm 1995 (ảnh tư liệu gia đình cung cấp) BẢY ƯỚC Trong thế trận bao vây Sài Gòn mùa Xuân 1975, Đặc công Rừng Sác âm thầm khống chế tuyến sông Lòng Tàu - mạch máu hậu cần của đối phương. Từ những đòn đánh nhỏ nhưng liên tục, lực lượng này góp phần làm gián đoạn vận tải chiến lược, trong đó dấu ấn của người chỉ huy Bảy Ước thể hiện qua sự am hiểu thực địa và những quyết định gắn với sinh mạng chiến sĩ. BĂNG PHƯƠNG NGƯỜI ANH CẢ RỪNG SÁC
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==