TIỀN PHONG SỐ ĐẶC BIỆT 30/4/2026

38 tienphong.vn “QUẢ ĐẤM THÉP” VÀO TÂY NGUYÊN Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết định, xét tình hình và tương quan lực lượng trên chiến trường, Bộ Chính trị quyết định chọn Tây Nguyên là “ngòi nổ” trong kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của dân tộc ta. Tây Nguyên là địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng của chế độ Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Trong quá trình xâm lược Việt Nam, Mỹ đã xây dựng Tây Nguyên thành một căn cứ chiến lược lớn nhằm ngăn chặn sự chi viện của ta từ miền Bắc và từ rừng núi xuống đồng bằng. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chọn Buôn Ma Thuột mở đầu cho Chiến dịch Tây Nguyên. Ban đầu, ta đánh địch trên đường 19, đường 21 (chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng), đường 14 (chia cắt Bắc và Nam Tây Nguyên) nhằm bao vây, nghi binh đánh lạc hướng quân địch. Đến đầu tháng 3/1975, địch vẫn chưa phát hiện ta sẽ tấn công Buôn Ma Thuột, nên điều quân ở Đắk Lắk ra Pleiku để đối phó với hoạt động của chủ lực ta ở Bắc Tây Nguyên. Biết địch đã trúng kế “điệu hổ ly sơn”, quân ta bắt đầu tiến đánh Buôn Ma Thuột, địa bàn phòng thủ chiến lược của VNCH tại Tây Nguyên. Đại tá Nguyễn Xuân Bình, cựu chiến binh Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao Vàng, được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng 9/1975) cho biết, cuối năm 1974 đầu năm 1975, Sư đoàn 3 (Quân khu 5) được điều về huyện Hoài Ân (Bình Định) để chuẩn bị tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Sau đó, nhận lệnh cấp trên, Sư đoàn 3 chuyển hướng nhiệm vụ, được giao đánh chiếm và làm chủ đèo An Khê trên đường 19 để cắt đứt tuyến đường huyết mạch của tỉnh Bình Định với tỉnh Gia Lai (Tây Nguyên). “Thời điểm đó, chúng tôi là những người lính (khi đó ông Bình là chuẩn úy Trung đội trưởng thuộc Đại đội 51, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3- PV) nên chỉ phán đoán theo quy luật là Mặt trận B3 (mặt trận Tây Nguyên) mở chiến dịch, đơn vị có nhiệm vụ đánh cắt đường 19 để phối hợp với chiến dịch này”, đại tá Bình cho biết. Rồi ông kể, trước khi có trận “điểm huyệt” then chốt vào Buôn Ma Thuột, từ đêm 3/3/1975, các đơn vị của Sư đoàn 3 đã áp sát để tiến đánh các điểm chốt trên đèo An Khê. Đến sáng 4/3/1975, Sư đoàn 3 đồng loạt tiến đánh đèo An Khê và làm chủ đường 19. Sư đoàn 22 của VNCH đưa quân tiến đánh nhằm chiếm lại đường 19 nhưng bị đánh lui. Việc Sư đoàn 3 làm chủ đèo An Khê và đường 19 khiến quân đội VNCH tại Tây Nguyên bị cô lập, góp phần cho quân ta tiến đánh tại chiến trường chính Tây Nguyên. Bên cạnh đường 19, việc quân ta chiếm và cắt đứt đường 14 và 21 là những đòn đánh chiến lược, chia cắt hoàn toàn Tây Nguyên với duyên hải miền Trung (đặc biệt là Nha Trang), cô lập địch tại Kon Tum - Pleiku, tạo điều kiện thuận lợi bao vây Buôn Ma Thuột. Tình thế này đã biến Tây Nguyên thành một “ốc đảo” quân sự, khiến nơi đây không thể nhận thêm xe tăng, pháo hay đạn dược từ đồng bằng lên. Mọi sự tiếp viện chỉ còn trông chờ vào đường hàng không vốn rất hạn chế về khối lượng và dễ bị pháo cao xạ của ta khống chế. Trước tình hình đó, ngày 10/3/1975, các đơn vị chủ lực của ta tại Mặt trận Tây Nguyên đã tiến đánh Buôn Ma Thuột. Mở đầu bộ đội đặc công đánh sân bay thị xã, đánh khu kho Mai Hắc Đế, lực lượng bộ binh đánh sân bay Hòa Bình; cùng thời gian này hỏa tiễn và các cụm pháo tập trung bắn vào Sư bộ 23 của địch. Tiếp đó, ở hướng bắc bộ binh ta có xe tăng phối hợp đánh vào Buôn Ma Thuột. Ở hướng tây, quân ta đánh chiếm doanh trại Tiểu đoàn Quân y và áp sát căn cứ Sư bộ 23. Ở hướng nam, ta đánh vào khu Hành chính, khu Tiếp vận, Ty Ngân khố... Đến ngày 11/3/1975, bộ binh, xe tăng và trọng pháo của ta tập trung đánh vào Sư bộ 23, địch chống trả quyết liệt, nhưng đến 10 giờ, quân ta đã làm chủ các mục tiêu, giải phóng và làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột. Chiến thắng Buôn Ma Thuột đã giáng đòn điểm huyệt choáng váng, buộc quân địch từ ngày 15/3/1975 phải rút khỏi Kon Tum, Pleiku theo đường số 7 hòng co cụm về vùng đồng bằng ven biển khu 5. Không bỏ lỡ thời cơ, quân ta kịp thời truy kích, tiêu diệ t gầ n hết quân địch rút chạy trên đường số 7 (một con đường cũ, xuống cấp) để kết thúc thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên. THẦN TỐC CHIẾN DỊCH HUẾ - ĐÀ NẴNG Sau chiến dịch Tây Nguyên, ngày 5/3/1975, chiến dịch Huế - Đà Nẵng bắt đầu được triển khai. Bấy nay, Lữ đoàn xe tăng 203 (thuộc Quân đoàn 2, tháng 9/1975 Lữ đoàn 203 được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân-PV) được biết đến là đơn vị đầu tiên chiếm Dinh Độc Lập, nhưng trước đó Lữ đoàn này cũng tham gia Chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Về việc này, tôi có dịp hỏi chuyện ông Vũ Đăng Toàn, cựu Chính trị viên Đại đội 4 kiêm trưởng xe tăng 390 (năm 2013 Đại đội 4 được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân- PV), Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203. Ông Toàn cho biết, trong trận đánh Trị Thiên - Huế, Lữ đoàn 203 trong đội hình Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ phối hợp cùng nhiều đơn vị khác đánh chiếm các cứ điểm trọng yếu của địch ở Huế. Sau khi cùng bộ binh phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở khu vực núi Bông, núi Nghệ, ngày 25/3/1975, Lữ đoàn xe tăng 203 trong đội hình Quân đoàn 2 tiếp tục phối hợp cùng các đơn vị khác đánh chiếm các mục tiêu quan trọng như Sở chỉ huy Tiền phương Quân đoàn 1, tiểu khu Thừa Thiên của VNCH. Tiếp đó, các lực lượng của ta tiến công mãnh liệt vào căn cứ Phú Bài và sân bay Phú Bài, là chốt chặn quan trọng nhất ở cửa ngõ phía nam thành phố Huế. Trên đà thắng lợi, Lữ đoàn xe tăng 203 góp phần bịt kín cửa biển Thuận An, chặn đứng con đường rút chạy duy nhất của quân đội Sài Gòn tại Trị Thiên, tạo ra thế trận bao vây để giải phóng toàn bộ Huế ngày 26/3/1975. Sau khi Huế giải phóng, Lữ đoàn xe tăng 203 nhận lệnh phối hợp cùng một số sư đoàn khác hình thành mũi tiến công để tiến về Đà Nẵng. Đây là thử thách lớn vì ngoài địa hình hiểm trở, đèo Hải Vân còn là tuyến phòng ngự hiểm yếu nhất chặn tại cửa ngõ phía bắc Đà Nẵng của VNCH. Chiều 27/3/1975, các đơn vị bộ binh và xe tăng của Lữ đoàn 203 đã đánh tràn qua đèo Phú Gia, tiến sát chân đèo Hải Vân tại khu vực Lăng Cô. Trải qua những trận chiến đấu, sáng 29/3/1975, Lữ đoàn xe tăng 203 cùng Sư đoàn 325 thực hiện cuộc tấn công mãnh liệt Ngày 7/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi bức điện số 157-HĐKTK chỉ đạo việc giải phóng miền Nam: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Trong tiến trình giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước có ba chiến dịch lớn. Trong đó, chiến dịch Tây Nguyên là tiến trình mở đầu, kế đến là chiến dịch Huế-Đà Nẵng, cuối cùng kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đại tá Nguyễn Xuân Bình ẢNH: KIẾN NGHĨA Bộ đội ta vào giải phóng Đà Nẵng ẢNH: T.L KIẾN NGHĨA THỐNG NHẤT NON SÔNG KHÁT VỌNG VIỆT NAM

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==