Báo Tiền Phong số 283-284

Bố của Phượng và mẹ của Hoàn học cùng lớp đại học, cùng khoa Văn, cùng đi sơ tán với nhau, ai cũng bảo là một cặp. Đôi khi, họ còn gọi đùa nhau là cậu - mợ. Vào rừng chặt nứa làm lán trại, cậu chặt làm hai bó lớn, vác về, trong khi mợ chỉ ngồi góc núi làm thơ. Bom địch thả trúng lán trại, công sức còn lại chỉ là những cái hố bom. Cậu đi tìm mợ, thấy mợ ngất trong hầm, bên cạnh là những trang thơ viết chưa xong. Gia đình thúc giục cậu lấy vợ vì là con trai một, hoàn cảnh chiến tranh, sống chết biết thế nào, muốn đi đâu cũng được, nhưng nên để lại nhà một đứa cháu nội cho ông bà còn đỡ nhớ nhung. Đội và hợp tác mai mối, cậu lấy vợ, được một tuần thôi thì lên đường đi B. Cậu - mợ mỗi người một chiến trường, cứ đi biệt như thế, rồi có tin cậu đã hi sinh khi đang theo một mũi thọc sâu, khi chụp ảnh các chiến sĩ trung đoàn đối đầu giặc Mỹ ở tuyến lửa. Mợ buồn và khóc nhiều lắm. Mợ đã biết cậu đã không chọn mợ làm vợ vì không muốn mợ phải đội khăn trắng trên đầu mà sống một cuộc đời cô quả hay sao? Linh cảm nào đã sai khiến cậu như thế. Mợ không giận, chỉ thương cậu thôi. Cậu hy sinh, mợ muốn viết một bài thơ từ biệt, hẹn gặp nhau, vì mợ cũng nghĩ cuộc chiến khốc liệt này, thật khó để lành lặn trở về, nhưng vì lý tưởng quản gì hy sinh. Nghĩ thế, nhưng cầm bút thì nước mắt giàn dụa, không sao viết được. Đó là lần đầu tiên và duy nhất mà mợ đã không thể nào làm thơ, dù chỉ một câu thôi. Cứ nhìn thấy cái bút thì mợ muốn xỉu đi. Rồi chiến tranh kết thúc, mợ lấy chồng, không ai khác mà là một người đồng đội, người bạn học, anh biết tất cả về vợ mình, cả mối tình giấu kín trăm năm, anh ấy muốn bù đắp cho cô, muốn thay bạn mình để chăm sóc người bạn gầy rộc và ốm đau dặt dẹo vì sống quá lâu trong địa đạo thiếu nắng và đôi tai đã lãng vì nghe bom B52 quá nhiều. Họ có điểm khá giống nhau là mãi mãi không thể rời xa ký ức năm tháng trong trường đại học, những trận bom trên chiến trường, những chuyện vui buồn thời tuổi trẻ, dù thật ra, mỗi người đều đã từng có những mối tình riêng. Cuộc hôn nhân thật sự của hai người bạn thân đã cho ra đời Phượng, một cô gái mạnh mẽ, đôi mắt đen, dáng cao ráo, giọng nói vang như chuông. Cô bé không thể hiểu được vì sao bố mẹ không bao giờ gọi nhau là chồng vợ mà chỉ gọi nhau là bạn và mẹ thì mỗi năm làm đám giỗ một người đàn ông nào đó, còn bố cũng thường thắp hương ngó về xa xăm để nhớ về một người nữ đồng đội bây giờ vẫn chưa tìm thấy mộ. Họ chỉ có một điểm chung. Phượng. Hoàn và Phượng gặp nhau trong một lớp nghiệp vụ dạy về kỹ năng viết lách. Phượng rất giỏi ngoại ngữ vì cô sinh trưởng trong thành phố và cô thích viết văn bằng tiếng nước ngoài. Những tác giả cô yêu thích đều từ các châu lục khác. Hoàn là một đứa con mồ côi, bố nằm lại chiến trường, mẹ già không tái giá, nhưng có sinh thêm một em gái nữa, gia cảnh khó khăn, nỗ lực lắm cậu mới vào được đại học nhờ tài viết lách bẩm sinh thừa hưởng từ người cha học khoa Văn năm nào. Mẹ của Phượng bảo: “Chúng mày hãy thành một đôi đi. Tao thích thế”. Phượng nói: “Thời này là thời nào mà mẹ còn sắp đặt cuộc đời và tình yêu của con cái. Con chưa thích yêu và có thể con chẳng lấy chồng, con thích sống một mình tự do, đọc sách, du lịch, làm việc lương cao, con không thích trẻ con”. Hoàn mắc phải tính tự ti từ nhỏ. Một đứa con trai lớn lên không thấy mặt cha, một mình cặm cụi đèn sách. Mẹ thì bị xóm làng chê bai, lên án, vì không chồng mà chửa, vợ liệt sĩ nhưng không gương mẫu, trai trên gái dưới để lại hậu quả. Chao ôi, Hoàn đã vượt lên tất cả để học văn viết văn theo con đường của cha mình, hay chính văn chương đã là người bạn, người cha nâng đỡ dìu dắt cậu đi vào thành phố. Hoàn theo địa chỉ mẹ đưa, tới thăm nhà Phượng. Nhà của em ấy nằm ở trung tâm thành phố, chẳng khác gì biệt thự, cuộc sống vô cùng tiện nghi. Phượng quá xinh đẹp, thông minh, chân dài miên mai, ngoại ngữ tuôn ra như suối, ăn ở nhà hàng sang trọng, uống ở quán cà phê mà có lẽ cả đời Hoàn chẳng dám bước chân vào, vì thương mẹ, thương em ở quê, hàng tháng gắng gom góp gửi tiền về. Một lần, tan lớp học nghiệp vụ, Phượng bảo: “Bà bu nói nhắn anh thứ Bảy này lên nhà đưa em đi chơi. Bà bu bảo sao, em nói lại vậy, chứ em không thích đi chơi, em càng không thích đi chơi với anh, vì anh nhà quê một cục, đi đâu em xấu hổ”. Cuối tuần, Hoàn đạp xe đạp lên nhà Phượng, anh vẫn nghe lời bu lắm, dù biết thân phận mình chẳng thể nào với được vào nhà của bu đâu, chưa kể cái Phượng nó như bông hoa rực rỡ vậy, sao đành cảnh “Hoa lài cắm bãi cứt trâu”. Phố xá rực rỡ, thơm lừng, Hoàn thấy mình sao lạc lõng, rồi anh sẽ vào nhà, rồi sẽ chở Phượng đi đâu bằng cái xe đạp cũ nát này? Giữa phố xá ngoài kia là ô tô, xe máy sang trọng chạy như một bức tranh muôn màu. Hoàn lên đến đầu phố, rồi lại quay về chỗ trọ. *** Phượng đi du học nước ngoài, ở đâu xa lắm, Hoàn không biết. Hoàn nghe lời mẹ, về quê lấy vợ nhưng trước khi về cũng ghé nhà Phượng chào bu một câu. Mẹ của Phượng trầm ngâm: “Các anh chị không biết nghe người lớn, chẳng đâu đến đâu. Hay là tôi không có phúc được gọi anh là con? Bây giờ, anh về quê, chẳng biết bao giờ gặp lại, tôi giao cho anh kỷ vật này, hãy giữ lấy”. Mẹ của Phượng lục trong cái tủ gỗ, hình như trong cái ba lô còn nguyên bụi khói chiến trường, lấy ra một bức ảnh bạc màu, ố vàng và có lẽ đó là vết ố của máu đổ. Lần đầu tiên Hoàn thấy mặt bố mình, thấy bố mỉm cười trong ảnh, nhìn đứa con trai mà ông chưa bao giờ nhìn thấy mặt, bởi ông ra đi chỉ một tuần sau ngày lấy mẹ. Bố cắt tóc cao, cái mũi cao, trên ngực mang một chiếc máy ảnh. Người bên cạnh, tựa vào vai bố, tay cầm một cuốn sổ, người đó chính là mẹ của Phượng, chắc chắn rồi. “Hồi trẻ bu xinh quá nhỉ”. Hoàn bảo, mẹ của Phượng càu nhàu: “Ý anh là bây giờ tôi già xấu chẳng ma nào thèm nhìn phải không? Anh đúng hệt tính bố anh, chỉ chê là giỏi”. “Người ta chê con chứ con dám chê ai bao giờ”. Hoàn ấp úng, mà thế thật, cả đời Hoàn chỉ thấy mang ơn, được cuộc đời cưu mang che chở, nhất là các bạn của bố, như bu đây, vẫn nấu cơm cho Hoàn ăn mỗi lần cậu ghé thăm, dù chưa bước chân vào cửa thì mấy con chó đã lao ra sủa, chắc chúng chưa thấy người nghèo khó bao giờ hay sao? Bẵng đi nhiều năm, mới rồi khóa đào tạo nghiệp vụ viết báo viết văn họp lớp. Cái phong trào họp lớp kỷ niệm 30 năm rộ lên, được lớp mời Hoàn cũng thấy vui, cứ tưởng mọi người quên mình rồi. Như Hoàn đây, nào có nhớ ai đâu? Mấy chục năm không làm việc chung, không liên lạc, lại cái nỗi viết lách văn chương quen ru rú một mình một góc, ngại quảng giao, ít tiếp xúc, nếu chẳng phải 30 năm thì cũng chẳng đi đâu. Điều chắc chắn là kỷ niệm 60 năm thì có lẽ chẳng còn lại được mấy người. Hoàn đi họp lớp để thử thách xem đầu óc mình sau 30 năm có nhận diện, còn nhớ được ai không? Ai sẽ là người mình muốn gặp nhất, ai sẽ đem đến cho mình niềm vui, và ai sẽ đem cho mình niềm đau? Hẳn người ấy sẽ là người quan trọng nhất. Cả trăm con người chứ có ít đâu. Chẳng hiểu sao và chẳng biết là thế nào mà đi đâu loanh quanh anh cũng thấy Phượng bên cạnh. Một người đàn bà thành đạt và chẳng có tì vết gì, một người soi mãi không tìm ra được một sợi tóc nào của sự bất hạnh, chao ôi, Phượng toát ra sự viên mãn đến tột cùng và Hoàn vui vì điều ấy. Bởi giữa bố anh và mẹ của Phượng đã từng là bạn của nhau, họ đã từng có một tuổi trẻ bên nhau. Hoàn thấy hạnh phúc của Phượng bây giờ cũng như một niềm vui xa xôi mà gần gụi của bản thân. Hoàn hỏi, không hề khách sáo: “Phượng khỏe chứ?”. Phượng, vẫn mái tóc xoăn và đôi chân dài: “Anh hỏi sức khỏe em để làm gì? Anh nhìn thì biết mà. Anh nên hỏi em có hạnh phúc hay không thì em còn có cái để trả lời”. Hạnh phúc ư? Hạnh phúc là gì nhỉ? Là sự thành công trong cuộc sống, có một vị trí nào đó, ra vào được chào, có xe đưa rước, có bảo vệ, hay chỉ cần một mái nhà không còn cảnh đi ở trọ, về nhà có một nồi cơm bốc khói, hạnh phúc là thoát ra được một chứng mệnh mãn tính, là được ai đó khen vài câu lấy lệ mà không phê phán chê bai? Hay như bu thường nói: Hạnh phúc là khi không còn nghe tiếng bom rơi. Thật sự, đến giờ phút này Hoàn cũng không biết hạnh phúc thật sự là gì? Đến một kẻ viên mãn thành công toàn diện như Phượng hình như còn không biết, sao lại hỏi một cây bút quèn không tên tuổi làm gì. Hoàn tự dưng dũng cảm bất thường và tỏ ra sành điệu: “Hình như anh còn nợ em một bữa cà phê cuối tuần, như lời chỉ đạo của bu thì phải?”. Phượng nổi cáu: “Ai thèm đi cà phê với anh, quê cả cục mà đòi đi cà phê!”. Rồi Phượng lại xoa dịu, dù sao mấy thập kỷ mới gặp nhau: “Không cà phê cà pháo gì nữa nghe chưa. Anh và em cùng lớp đi nghĩa trang thắp hương cho các nhà báo, nhà văn hy sinh ở chiến trường, nhanh chân kẻo cả lớp chờ kìa”. Loáng cái Phượng đã dẫn đầu lớp vào nghĩa trang, tà áo dài màu xanh thấp thoáng trong những tán cây, rồi không thấy bóng người chỉ nghe tiếng lá xào xạc. Phượng! Em đâu rồi? 8/2026 10-11/10/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC của tôi Truyện ngắn của TRẦN NGUYỄN ANH

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==