9 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Ba n Ngày 29/9/2026 tuyến trải nghiệm di sản, thay cho việc khép lại mọi thứ sau sân khấu cuối cùng. KHÔNG CHỈ SÔI ĐỘNG TRONG MỘT NGÀY Những giá trị mà chính sách văn hóa tạo ra thường cần một quá trình lâu dài mới có thể đo đếm và phát huy đầy đủ. Vậy theo ông, việc dành một ngày trong năm để tôn vinh văn hóa, mở rộng cơ hội tiếp cận và hưởng thụ văn hóa có thể tạo ra những chuyển biến cụ thể nào trong nhận thức, hành vi và đời sống xã hội? Một ngày trong năm có thể trở thành điểm khởi đầu của một thói quen. Khi một em nhỏ lần đầu được xem một vở diễn, một gia đình cùng đến bảo tàng, một công nhân tìm thấy thư viện gần nơi ở: trải nghiệm trực tiếp thường làm cho khái niệm “văn hóa” trở nên gần gũi hơn nhiều lời kêu gọi. Từ nhận biết giá trị, người ta có thể đi tới hành vi cụ thể: đọc thêm một cuốn sách, ứng xử văn minh hơn ở không gian công cộng, gìn giữ ký ức gia đình, học một thực hành di sản hoặc trân trọng công sức của nghệ nhân. Tuy nhiên, tôi nghĩ không nên cho rằng một ngày hội sẽ làm thay đổi ngay nếp sống xã hội. Chuyển biến đáng quý là sau ngày ấy, người dân biết nơi nào có hoạt động văn hóa, có nhu cầu quay lại và có thêm cơ hội tham gia đều đặn. Chính sách cần nối ngày 24/11 với hoạt động quanh năm của thiết chế văn hóa, trường học và cộng đồng. Khi đó, một ngày tôn vinh sẽ góp phần tạo ra nhịp thực hành văn hóa bền bỉ. Một ngày hội thành công khi người dân muốn quay lại với văn hóa vào những ngày bình thường. Theo ông, hiệu quả của Ngày Văn hóa Việt Nam nên được đo bằng những tiêu chí nào để tránh tình trạng tổ chức rầm rộ trong một ngày nhưng tác động xã hội không rõ nét? Liệu có thể xây dựng những chỉ số cụ thể về mức độ tham gia, hưởng thụ văn hóa của người dân, khả năng lan tỏa các sản phẩm văn hóa và những thay đổi trong đời sống văn hóa cộng đồng? Hoàn toàn có thể, nhưng cần đo đúng điều chúng ta muốn thay đổi. Tôi đề xuất theo dõi bốn nhóm chỉ số: mức tiếp cận, gồm số người tham gia thực chất, tỷ lệ người tham gia lần đầu và cơ cấu theo độ tuổi, địa bàn, nhóm lao động; chất lượng trải nghiệm, qua khảo sát ngắn về mức hài lòng, khả năng tiếp cận và mong muốn trở lại; sức sống của sản phẩm, thể hiện ở lượt sử dụng có ý nghĩa, lượng sách mượn, vé xem, sự tham gia vào lớp học hoặc tuyến di sản sau sự kiện; tác động tiếp nối, như số chương trình được duy trì sau ba đến sáu tháng, số sáng kiến cộng đồng và mức độ tham gia của nghệ nhân, nghệ sĩ, doanh nghiệp. Chúng ta cần công bố cả chi phí và kết quả để nhìn được hiệu quả sử dụng nguồn lực. Lượt xem trên mạng chỉ là một chỉ báo ban đầu, cần phân biệt tiếp cận thoáng qua với người thực sự xem, chia sẻ, tìm hiểu hoặc tham gia. Năm đầu tiên nên thiết lập đường cơ sở, dùng cùng một bộ câu hỏi khảo sát ngắn để so sánh qua từng năm, đồng thời cho phép địa phương bổ sung chỉ số phản ánh bản sắc riêng. Chính phủ đặt mục tiêu từng bước xây dựng Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 trở thành một thương hiệu văn hóa quốc gia. Theo ông, để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần tạo ra những sản phẩm, hoạt động hay dấu ấn đặc trưng nào để ngày này có sức sống lâu dài, được người dân chờ đợi và có khả năng quảng bá ra quốc tế? Theo tôi, thương hiệu quốc gia cần một lời hẹn rõ ràng với công chúng. Có thể định hình Tuần lễ trải nghiệm văn hóa Việt Nam lấy ngày 24/11 làm điểm nhấn: cùng một bộ nhận diện, lịch hoạt động dễ tra cứu, những khung giờ mở cửa đặc biệt tại bảo tàng, di tích, thư viện; một chương trình nghệ thuật và sáng tạo thường niên có chất lượng; cùng các hoạt động do mỗi địa phương lựa chọn từ di sản, ẩm thực, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc hay nghề thủ công của mình. Phần chung tạo khả năng nhận diện, phần riêng làm nên sự phong phú của văn hóa Việt Nam. Tôi đặc biệt muốn thấy những sản phẩm sống được sau sự kiện: phim ngắn và nội dung số kể chuyện di sản bằng ngôn ngữ của người trẻ, các tuyến trải nghiệm có nghệ nhân và cộng đồng hưởng lợi, ấn phẩm song ngữ có thể giới thiệu ra thế giới. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể kết nối các chương trình phù hợp với bạn bè quốc tế và cộng đồng người Việt. Thương hiệu được hình thành khi công chúng năm sau nhớ lại một trải nghiệm đáng quý của năm trước và muốn tham gia tiếp, khi các chủ thể sáng tạo có thêm việc làm, còn cộng đồng thấy di sản của mình được tôn trọng và mang lại giá trị. Cảm ơn ông! TOAN TOAN “Không chỉ là nguồn nước phục vụ sinh hoạt, hai giếng cổ còn gắn bó với đời sống văn hóa của cộng đồng ngư dân Tam Hải. Từ nhiều thế hệ nay, người dân vẫn giữ thói quen lấy nước giếng để ăn uống và đặt ra những quy ước nghiêm ngặt nhằm bảo vệ nguồn nước”, ông Cường nói. Trong ký ức của cư dân Thuận An, nước giếng cổ còn hiện diện trong căn bếp của mỗi gia đình. Người dân cho rằng nước giếng dùng pha trà khiến trà thơm hơn, nấu cơm giúp hạt cơm dẻo hơn. Đặc biệt, nguồn nước này được sử dụng để chế biến xoa xoa - món ăn dân dã được xem là đặc sản xứ đảo - và nấu rượu gạo Tam Hải. Bà Nguyễn Thị Lan, người dân thôn Thuận An, cho biết theo lời các bậc cao niên truyền lại, hai giếng được nuôi bởi mạch nước ngầm từ khu vực chân núi Bàn Than. “Trải qua nhiều đợt hạn hán, hai giếng vẫn có nước. Người dân ở đây quý nguồn nước này lắm”, bà Lan chia sẻ. Trong những câu chuyện truyền khẩu, chúng có thể đã xuất hiện từ thời kỳ những cư dân đầu tiên tìm đến vùng đất này. Ông Trần Minh Tập, người dân thôn Thuận An, kể một câu chuyện được các thế hệ trước truyền lại rằng hai giếng có thể liên quan đến những thương nhân người Hoa từng giao thương với vùng Hội An xưa. Trong những chuyến hải trình qua vùng biển Tam Hải, các thương nhân cần tìm nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt nên lựa chọn khu vực dưới chân núi Bàn Than để đào giếng. Giữa những lớp ký ức của người dân, nó gợi mở về một thời kỳ biển không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là con đường giao thương, đưa những cư dân và thương nhân đến với vùng đất ven biển này. GIẾNG CỔ MỞ HƯỚNG DU LỊCH Nếu những vách đá Bàn Than kể câu chuyện địa chất qua hàng trăm triệu năm, thì hai giếng cổ lại kể câu chuyện gần gũi hơn: câu chuyện về con người đã tìm đến, sinh sống và bám trụ giữa vùng biển đảo. Ngày trước, giếng nước là nơi cung cấp nguồn nước quý giá cho cả cộng đồng. Nhưng đó cũng là nơi người làng gặp nhau mỗi ngày. Những gánh nước đi về, tiếng gọi nhau bên thành giếng, những câu chuyện về chuyến biển, chuyện mùa màng hay chuyện gia đình... cứ thế nối dài qua nhiều thế hệ. Với cư dân làng biển, giếng vì thế không chỉ là một công trình nằm trên mặt đất. Đó là một không gian cộng đồng, nơi đời sống thường nhật được kết nối và ký ức được lưu giữ. Ông Huỳnh Văn Cường cho rằng, giá trị của hai giếng cổ không chỉ nằm ở tuổi đời hay việc nguồn nước vẫn duy trì ổn định. Điều đáng quý hơn là những câu chuyện văn hóa gắn với quá trình hình thành và phát triển của địa phương. Chính vì vậy, xã tiếp tục phối hợp với người dân bảo tồn, gìn giữ công trình, đồng thời bảo vệ cảnh quan và nguồn nước quanh giếng. Tam Hải sở hữu quần thể danh thắng Bàn Than - Hòn Mang - Hòn Dứa với những vách đá đen đặc trưng, có giá trị địa chất lâu đời. Những khối đá, bờ biển, cảnh quan là những gì du khách có thể nhìn thấy bằng mắt. Còn giếng cổ đem đến một câu chuyện khác - câu chuyện về cách con người thích nghi với tự nhiên và tồn tại giữa một vùng đất mà nước ngọt từng quý hơn vàng. Để phát huy giá trị di sản, địa phương dự kiến quảng bá hình ảnh của hai giếng cổ, kết nối với các giá trị văn hóa bản địa và quần thể danh thắng Bàn Than - Hòn Mang - Hòn Dứa để phát triển du lịch cộng đồng. Những trải nghiệm tưởng như bình dị - tìm về giếng cổ, nghe người làng kể chuyện về nguồn nước, tìm hiểu những quy ước cộng đồng đã giúp bảo vệ giếng qua nhiều thế hệ, rồi thưởng thức những sản vật địa phương được làm từ chính nguồn nước này - có thể trở thành những sản phẩm du lịch riêng có của Tam Hải. H.V Tôi nghĩ không nên cho rằng một ngày hội sẽ làm thay đổi ngay nếp sống xã hội. Chuyển biến đáng quý là sau ngày ấy, người dân biết nơi nào có hoạt động văn hóa, có nhu cầu quay lại và có thêm cơ hội tham gia đều đặn. Chính sách cần nối ngày 24/11 với hoạt động quanh năm của thiết chế văn hóa, trường học và cộng đồng. Khi đó, một ngày tôn vinh sẽ góp phần tạo ra nhịp thực hành văn hóa bền bỉ. Một ngày hội thành công khi người dân muốn quay lại với văn hóa vào những ngày bình thường. PGS.TS BÙI HOÀI SƠN - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương “Không chỉ là nguồn nước phục vụ sinh hoạt, hai giếng cổ còn gắn bó với đời sống văn hóa của cộng đồng ngư dân Tam Hải. Từ nhiều thế hệ nay, người dân vẫn giữ thói quen lấy nước giếng để ăn uống và đặt ra những quy ước nghiêm ngặt nhằm bảo vệ nguồn nước”. Ông HUỲNH VĂN CƯỜNG, Chủ tịch UBND xã đảo Tam Hải triển Hoạt động văn hóa phải được tổ chức theo hướng gần người dân, dễ tiếp cận Các thế hệ luôn gìn giữ, bảo tồn giếng cổ
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==