6 n Thứ Tư n Ngày 23/9/2026 KHOA GIÁO NHỮNG CÚ SỐC Anh N.M.L., (quê ở Quảng Ngãi) rời quê vào TPHCM hơn mười năm trước khi trúng tuyển ngành Kĩ thuật điều khiển và Tự động hóa tại một trường ĐH kĩ thuật danh tiếng phía Nam. Anh mang theo kỳ vọng lớn của gia đình về một tương lai tươi đẹp, nhưng thực tế phũ phàng đã dập tắt mọi ảo mộng. Năm 2017, khi cầm tấm bằng cử nhân trên tay, anh L chật vật ứng tuyển khắp nơi nhưng không tìm được việc làm phù hợp, phải mưu sinh bằng nghề chạy xe công nghệ suốt 2 năm để trang trải cuộc sống và tiếp tục nộp hồ sơ phỏng vấn. “Cảm giác ngày ngày rong ruổi khắp phố phường trên chiếc xe máy, hoang mang nhìn về tương lai là cú sốc tinh thần nặng nề mà tôi phải đối diện. Nhìn lại giai đoạn đầy thử thách ấy, tôi nhận ra giáo trình ĐH đã mang đến khối lượng kiến thức khoa học tiên tiến và tư duy nền tảng rất sâu, nhưng lại thiếu vắng sự cọ xát trực tiếp”, anh L nói. Tốt nghiệp ngành Kĩ thuật Điện - Điện tử tại một trường ĐH công nghệ có tiếng ở Hà Nội và đang làm kĩ thuật viên, L.Đ cho biết, thời lượng thực hành trên trường chỉ chiếm khoảng 10-20%, tương đương 2-3 buổi mỗi kì/môn học. Quỹ thời gian này không đủ để người học rèn giũa thao tác nghề nghiệp. Dù nắm vanh vách nguyên lí mạch điện trên giấy, Đạt vẫn lúng túng khi trực tiếp thao tác trên các bảng mạch thực tế, nhất là khi phải đối mặt với những sai số đo đạc sai lệch hoàn toàn so với tính toán lí thuyết. Khoảng cách giữa việc biết nguyên lí và làm được việc cũng được thể hiện rất rõ trong ngành cơ khí chế tạo. Sau 6 tháng làm việc tại doanh nghiệp, Đ.V.L., sinh viên năm cuối ngành Kĩ thuật Cơ khí tại Trường ĐH Trà Vinh, nhận thấy kiến thức giảng đường chỉ là bước khởi đầu. Khi vận hành máy móc sản xuất, người thợ phải phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm thực tế. Chẳng hạn như việc xác định chế độ cắt gọt kim loại, nếu áp dụng máy móc các công thức tính toán mà không cân nhắc đến tình trạng hao mòn của thiết bị, độ cứng của vật liệu và yêu cầu riêng của từng sản phẩm thì dây chuyền sẽ hoạt động không ổn định. Chính sự va vấp tại xưởng đã thôi thúc Đ.V.L phải tự giác bổ sung các kĩ năng thực chiến như lập trình máy, học thêm các phần mềm thiết kế chuyên dụng như Mastercam, Inventor (các Phần mềm chuyên về lập trình gia công phay, tiện, cắt dây CNC với độ chính xác và phổ biến cao trong các xưởng cơ khí, mô phỏng, chế tạo cơ khí) và rèn luyện ngoại ngữ để nâng cao năng lực cạnh tranh lâu dài. CHỦ ĐỘNG BƯỚC RA THỰC TẾ Những khó khăn người trẻ gặp phải phản ánh thực tế: Trường ĐH không thể nào thay thế hoàn toàn môi trường doanh nghiệp. Nếu người học mang tâm lí ỷ lại vào điểm số trên lớp và chỉ bắt đầu tìm hiểu thị trường lao động khi sắp tốt nghiệp, họ có thể sẽ rơi vào thế bị động và mất phương hướng. Từ chính bài học đắt giá của bản thân, anh N.M.L. cho rằng, sinh viên nên nghĩ đến việc đi làm gắn với ngành nghề từ những năm đầu tiên vào ĐH để hiểu rõ những đòi hỏi khắt khe của ngành nghề. Việc cọ xát từ sớm sẽ giúp mỗi cá nhân nhận ra những khoảng trống cần bồi đắp giữa giảng đường và thực tế. Khi đã quen dần với áp lực và văn hóa doanh nghiệp, sinh viên sẽ không còn cảm giác chới với hay ngỡ ngàng khi cầm tấm bằng tốt nghiệp bước chân vào thực tế. Dưới góc độ của đơn vị tuyển dụng và sử dụng lao động, anh Lê Quốc Bảo, nhà sáng lập MunTech Service Lab (Cty Cổ phần MunTech Service) chỉ ra rằng, năng lực của sinh viên khối ngành kĩ thuật, công nghệ hiện có “độ vênh” lớn so với đòi hỏi thực tế của doanh nghiệp. Ngành học đòi hỏi kĩ thuật càng cao thì khoảng cách này càng bị nới rộng. Phần lớn sinh viên ra trường không thể bắt tay luôn vào công việc, buộc phải trải qua quá trình học việc tại doanh nghiệp hoặc các trung tâm đào tạo bên ngoài. Theo anh Bảo, căn nguyên của khoảng trống năng lực này nằm ở tỉ trọng thực hành quá thấp trên giảng đường. Tại một số trường ĐH hiện nay, điểm thực hành thường chỉ chiếm chưa đến 20% tổng điểm môn học. Sự chênh lệch này, cộng hưởng với bài toán thiếu hụt cơ sở vật chất, làm hạn chế cơ hội cọ xát của người học. Dù trang thiết bị đã được quan tâm đầu tư hơn trong thời gian gần đây, nhưng vẫn chưa tương xứng với sự gia tăng về quy mô và sĩ số sinh viên. “Một lớp có tới 30 - 40 sinh viên nhưng phải thực hành chung trên một, hai máy thì người học chỉ khám phá được rất ít”, anh Bảo nói. Việc thiếu hụt kĩ năng thực tế buộc các công ty phải mất rất nhiều thời gian, nguồn lực để đào tạo lại từ đầu. Quá trình này không chỉ tốn kém chi phí mà còn làm gián đoạn trực tiếp tiến độ của các dự án. Do đó, xu hướng tuyển dụng hiện nay đang có sự dịch chuyển rõ rệt. Các doanh nghiệp sẵn sàng chi trả mức lương cao hơn mặt bằng chung 15 - 20% cho những nhân sự có khả năng giải quyết vấn đề thực tế, đáp ứng yêu cầu công việc thay vì phải đào tạo lại. Thậm chí, nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn hiện nay có xu hướng trả tiền cho các bên thứ ba chuyên về tuyển dụng để săn tìm người thạo việc, bởi họ đã quá mệt mỏi và “chán” việc phải tiêu tốn nguồn lực mài giũa sinh viên mới ra trường. Tuy nhiên, theo anh Bảo, thực tế thị trường lại đặt các doanh nghiệp vào một nghịch lí: Khao khát nhân sự làm được việc ngay, nhưng mặt bằng chung nguồn nhân lực lại không cao. Điều này buộc nhiều công ty dù không muốn nhưng vẫn phải hạ thấp tiêu chí tuyển dụng, chấp nhận đào tạo lại để có và giữ chân nhân sự. Dù vậy, quá trình đào tạo lại này mang đến không ít vấn đề “đau đầu” cho người quản lí. Anh Bảo chia sẻ, nhiều sinh viên khi mới tiếp xúc với các bài toán thực tế khó nhằn thường rất dễ nản chí và bỏ cuộc chỉ sau vài ngày. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ việc các bạn thiếu thói quen và kĩ năng chủ động bóc tách, giải quyết các vấn đề phức tạp, vốn là điều chưa được rèn giũa đủ độ chín trên giảng đường. Để giải quyết tận gốc bài toán nhân lực, anh Bảo nhấn mạnh cần nhìn nhận và đánh giá lại thực chất hiệu quả của khẩu hiệu “nhà trường gắn kết với doanh nghiệp” trong nhiều năm qua, tránh tình trạng hợp tác chỉ nằm trên giấy tờ, hình thức. Sự kết nối này cần đi vào lộ trình cụ thể với các tiêu chí đánh giá rõ ràng, đầy đủ. Cụ thể, việc chấm điểm thực hành, đánh giá sản phẩm dự án phải được hệ thống hóa, tiệm cận với tiêu chuẩn của doanh nghiệp. Kĩ năng thực hành cần được nâng tầm thành một “chuẩn đầu ra” bắt buộc, làm thước đo năng lực chính xác nhất cho sinh viên trước khi gia nhập thị trường lao động. LÊ VƯỢNG - ANH NHÀN - NGUYỄN DŨNG Nhiều sinh viên bước vào giảng đường đại học (ĐH) với niềm tin chỉ cần nắm chắc lí thuyết và sở hữu tấm bằng tốt nghiệp loại ưu là cánh cửa sự nghiệp sẽ rộng mở. Thế nhưng thị trường lao động luôn có khoảng cách rất lớn giữa những kiến thức giáo trình hàn lâm và yêu cầu năng lực thực tế tác nghiệp trong môi trường làm việc. Đại phẫu đào tạo đại học Để giải quyết tận gốc bài toán nhân lực, anh Lê Quốc Bảo nhấn mạnh cần nhìn nhận và đánh giá lại thực chất hiệu quả của khẩu hiệu “nhà trường gắn kết với doanh nghiệp” trong nhiều năm qua, tránh tình trạng hợp tác chỉ nằm trên giấy tờ, hình thức. Dưới góc độ của đơn vị tuyển dụng và sử dụng lao động, anh Lê Quốc Bảo, nhà sáng lập MunTech Service Lab (Cty Cổ phần MunTech Service) chỉ ra rằng, năng lực của sinh viên khối ngành kĩ thuật, công nghệ hiện có “độ vênh” lớn so với đòi hỏi thực tế của doanh nghiệp. Ngành học đòi hỏi kĩ thuật càng cao thì khoảng cách này càng bị nới rộng. Ngành giáo dục không chỉ loay hoay với bài toán “học thật, thi thật” ở các cấp phổ thông mà ngay cả bậc đại học cũng còn khoảng cách giữa đào tạo với yêu cầu thực tế của thị trường lao động. Bài 1: Tốt nghiệp trên… giấy Sinh viên học tập trực tiếp tại các nhà máy, phân xưởng ở TPHCM ẢNH: NGUYỄN DŨNG Anh Lê Quốc Bảo (người đeo kính), người sáng lập MunTech Service Lab hướng dẫn công việc cho sinh viên thực tập ẢNH: LÊ VƯỢNG
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==