Báo Tiền Phong số 262-263

Có những lúc quê hương trở về không phải bằng một địa danh. Nó trở về bằng một mùi khói bếp. Một tiếng rao trong buổi chiều. Tiếng chày giã gạo. Một con đường làng. Một giọng nói nghe thoáng qua giữa một thành phố xa lạ, bỗng nhiên làm lòng mình chùng xuống. Có khi quê hương chỉ là một cái giếng, một hàng cau, một bờ ao, một mùa gặt. Có khi nó là tiếng mẹ gọi từ cuối sân. Và cũng có khi, đến lúc đã đi rất xa, ta mới nhận ra quê hương không nằm yên ở nơi ta từng sống. Nó đi theo ta. Không chỉ là nơi sinh ra. Quê hương có thể là quê cha, đất tổ, làng cũ, mồ mả ông bà, tiếng nói của mẹ, một món ăn, một câu ca dao, một phong tục. Với người xa xứ, quê hương còn là cảm giác mình thuộc về một nơi đó. Có lẽ vì thế mà văn học Việt Nam, từ thơ đến văn xuôi, luôn trở đi trở lại với một câu hỏi: Con người thực sự mang quê hương theo mình bằng cách nào? Nguyễn Bính có lẽ là một trong những người hiểu rất rõ điều ấy. Trong thơ ông, làng quê không chỉ là phong cảnh mà là cả một thế giới của ký ức, tập quán và những quan hệ thân thuộc. Chỉ một cái giậu mồng tơi cũng đủ dựng lên cả một không gian tinh thần: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/ Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn” Đến khi con người rời khỏi thế giới ấy, những thứ tưởng bình thường bỗng trở thành không thể thay thế. Trong thơ Huy Cận, quê hương lại hiện lên qua một tầng sâu khác: tiếng nói. Với bài thơ Nằm trong tiếng nói sáng tác năm 1942, ông gợi ra một trực giác đẹp rằng tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp. Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời. Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con Trong tiếng nói có lịch sử của một cộng đồng, có những cách gọi tên sự vật, những nhịp điệu, thành ngữ, cách xưng hô và những tình cảm đã được tích tụ qua rất nhiều thế hệ. Người ta có thể rời khỏi một căn nhà, một con phố, một ngôi làng; nhưng rất khó rời khỏi hoàn toàn tiếng mẹ đẻ. Một người Việt sống ở Paris, Berlin hay Melbourne vẫn có thể bất chợt nhận ra mình thuộc về một nơi nào đó chỉ bởi nghe một người khác nói tiếng Việt. Quê hương, trong trường hợp ấy, đã trở thành một âm thanh. Khi đọc thơ ca Việt Nam, ta thường thấy quê hương không chỉ được nhớ bằng mắt. Nó được nhớ bằng tiếng, bằng mùi, bằng nhịp điệu và bằng những vật thể rất nhỏ của đời sống. Một câu thơ hay về quê hương đôi khi không cần nói đến “Tổ quốc”, bởi chỉ cần một bờ tre, một tiếng chim, một phiên chợ, một người mẹ hay một con đò, cả một thế giới đã hiện ra. Trong Bến quê, Nguyễn Minh Châu đặt con người trước một nghịch lý giản dị mà day dứt: những gì gần gũi nhất đôi khi lại là những gì chỉ nhìn thấy rõ khi đã không còn khả năng đi tới. Bến sông, bãi bồi, căn nhà, người vợ và những năm tháng đã sống cùng nhau trở thành một thứ quê hương thu nhỏ. Trong Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, không gian gia đình lại trở thành một dạng ký ức khác. Một gia đình thay đổi thì cả một hệ giá trị cũng thay đổi theo. Những nghi lễ, cách ứng xử, quan hệ giữa các thế hệ, những điều từng được xem là hiển nhiên dần lung lay. Cái mất đi không chỉ là một nếp nhà, mà là cảm giác về một thế giới từng có trật tự. Ở đây, quê hương có một thể đó là một ngôi làng từng chịu đói. Một thành phố từng bị bom đạn. Một gia đình có người hy sinh. Một cuộc di cư. Một cuộc vượt biên. Một miền đất phải bỏ lại. Và những điều ấy không phải lúc nào cũng được kể lại. Đôi khi chúng được truyền đi bằng sự im lặng. Có lẽ một trong những điều đáng chú ý của văn học Việt Nam là ký ức về quê hương thường đi cùng với sự ra đi. Mỗi cuộc ra đi lại tạo nên một quê hương mới trong ký ức. Điều này có thể thấy trong sáng tác của nhiều nhà văn Việt Nam ở hải ngoại. Ocean Vuong, Nguyễn Phan Quế Mai, mỗi người bằng một cách kể khác nhau, đều cho thấy chiến tranh, di cư và nguồn cội không chấm dứt khi con người bước sang một đất nước khác. Trong Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian (On Earth We’re Briefly Gorgeous), Ocean Vuong viết về một gia đình Việt Nam sống ở Mỹ, nơi quá khứ chiến tranh đi vào thế hệ sau không chỉ qua những điều được kể mà cả những điều không được kể. Nguyễn Phan Quế Mai, trong The Mountains Sing (tạm dịch: Những ngọn núi ngân vang), lại đưa lịch sử Việt Nam đi xuyên qua nhiều thế hệ của một gia đình. Chiến tranh ở đó không chỉ là một chương trong sách sử mà là một phần của đời sống, của những mất mát và lựa chọn cá nhân. Có khi càng đi xa, người ta càng mang theo nhiều quê hương hơn. Nhưng ký ức có thực sự chỉ nằm trong trí óc của mỗi người? Maurice Halbwachs, từ đầu thế kỷ XX, đã phát triển khái niệm “ký ức tập thể”: những ký ức không chỉ thuộc về một cá nhân mà được hình thành và duy trì trong gia đình, cộng đồng, làng xã hay một dân tộc. Một người trẻ hôm nay không trải qua chiến tranh nhưng có thể lớn lên trong những câu chuyện về chiến tranh. Họ không sống trong ngôi làng mà ông bà từng sống nhưng có thể biết về nó qua những bức ảnh, câu chuyện, phong tục, tên gọi, món ăn, bàn thờ tổ tiên và những ngày giỗ. Điều đáng chú ý là khoa học hiện đại, lĩnh vực di truyền biểu sinh (epigenetics) đã nghiên cứu những thay đổi trong cách gene được biểu hiện. Một số nghiên cứu trên động vật cho thấy trải nghiệm môi trường hoặc những kích thích nhất định có thể liên quan tới những thay đổi được quan sát ở thế hệ sau. Nghiên cứu của Kerry Ressler và cộng sự trên chuột về phản ứng sợ hãi với mùi hương là một trường hợp thường được nhắc tới. Các công trình của Rachel Yehuda và cộng sự trên những người sống sót sau nạn diệt chủng Do Thái cùng con cháu họ cũng đặt ra những câu hỏi đáng chú ý về sang chấn và dấu ấn biểu sinh. Nhưng từ rất lâu trước khi có những thuật ngữ như gene hay epigenetics, văn chương đã nói về một điều rất gần với nó: chúng ta thường mang trong mình nhiều thứ hơn những gì chính mình trực tiếp trải qua. Điều này đặc biệt rõ trong những cuộc trở về. Trên thế giới, du lịch về nguồn (roots tourism, ancestral tourism) là một hiện tượng ngày càng được chú ý. Nhiều người Mỹ gốc Phi tìm về Ghana, Nigeria và những vùng đất mà họ xem như một phần nguồn gốc của mình. Họ không chỉ đi thăm một di tích lịch sử mà tìm cách nối hiện tại với những con người đã sống trước họ nhiều thế hệ. Ở Việt Nam, hàng năm, dòng người tìm về Đền Hùng không đơn thuần thực hiện một chuyến tham quan. Họ đi trong một nghi lễ đã được trao truyền qua nhiều thế hệ, thực hiện một hành động tưởng nhớ nguồn cội. “Uống nước nhớ nguồn” vì thế không chỉ là một câu nói đạo lý. Nó là một cách tổ chức ký ức. Người Việt lập bàn thờ tổ tiên trong nhà. Những ngày giỗ, những ngày Tết, người sống gọi tên người đã khuất. Trẻ con được kể về ông bà, về quê nội, quê ngoại, về những người mà chúng chưa từng gặp. Mỗi người là một đoạn giữa của một câu chuyện dài hơn. Nguyễn Ngọc Tư, trong những trang viết về miền quê Nam Bộ, thường cho thấy một quê hương không hề được lý tưởng hóa. Đó là những vùng đất có nghèo khó, cô đơn, những phận người lênh đênh, những cuộc ra đi. Nhưng chính vì thế mà quê hương không còn là một bức tranh phong cảnh đẹp đẽ treo trên tường. Nó là một đời sống. Cũng vậy, trong nhiều tác phẩm văn học Việt Nam sau chiến tranh, quê hương không chỉ là nơi để ca ngợi. Nó có thể là nơi gây thương nhớ, nơi gây tổn thương, nhưng là nơi người ta muốn trở lại. Đó là một quê hương phức tạp hơn. Và cũng thật hơn. Một gia đình có thể truyền lại tình yêu quê hương cùng với những câu chuyện buồn. Một dân tộc có thể truyền lại niềm tự hào cùng những vết thương lịch sử. Một người di cư có thể vừa muốn quên quê nhà vừa không thể ngừng nghĩ về nó. Vậy rốt cuộc quê hương nằm ở đâu? Trong bản đồ? Trong ký ức? Trong tiếng nói? Trong câu chuyện gia đình? Trong những nghi lễ mà chúng ta lặp lại mà đôi khi không biết vì sao? Hay ở một tầng sâu nào đó của chính cơ thể? Khoa học sẽ còn tiếp tục nghiên cứu ADN, gene, biểu sinh và những cơ chế có thể liên quan tới sự truyền dấu ấn giữa các thế hệ. Xã hội học nghiên cứu ký ức tập thể; tâm lý học nghiên cứu ký ức cá nhân và sang chấn. Nhưng văn chương thì đã làm công việc ấy từ rất lâu. Nó kể về một người đứng bên bờ sông và nhớ quê. Một người nghe tiếng mẹ đẻ giữa thành phố xa lạ. Một người trở về ngôi nhà cũ. Một đứa trẻ nghe câu chuyện chiến tranh mà ông bà kể. Có khi quê hương chỉ còn lại là một câu thơ. Một tiếng gọi. Một món ăn. Một giọng nói. Một cái tên. Một câu chuyện được kể đi kể lại trong gia đình. Có thể chúng ta không mang nguyên vẹn ký ức của tổ tiên trong ADN. Nhưng chúng ta mang theo những gì họ truyền lại bằng văn hóa, ngôn ngữ, tình yêu, mất mát và những câu chuyện. Và biết đâu, trong những tầng sâu mà khoa học còn đang tiếp tục khám phá, cơ thể cũng lưu giữ những dấu vết tinh tế của lịch sử môi trường mà nó đã đi qua. Một thế hệ kể cho thế hệ sau. Một người viết lại ký ức của mình. Một nhà thơ biến tiếng quê hương thành câu thơ. Một đứa trẻ nghe lại tên ông bà mình. Cứ như thế, nguồn cội được truyền đi. Không nhất thiết nguyên vẹn. Không bao giờ hoàn toàn giống cũ. Nhưng đủ để nhận ra một “mã”. Quê hương, có lẽ, là như thế. n 19-20/9/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC Tạp văn của MAI ĐÌNH THỤY MINH HỌA: HÙNG LƯƠNG NHỮNG GÌ CÒN LẠI

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==