Báo Tiền Phong số 253

9 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Năm n Ngày 10/9/2026 CHUYỆN HÔM NAY Phụ huynh nhiều trường tại TPHCM lo lắng khi nhà trường chưa tổ chức bữa ăn bán trú. Bởi từ mỗi bữa ăn đó, phụ huynh có thể yên tâm gồng gánh mưu sinh khi con em đã có nơi ăn, chốn ở buổi trưa tại trường. Phụ huynh một số trường ở Hà Nội lo lắng khi đến giờ cơm, con vẫn đói vì xe của nhà cung cấp đến muộn hay mỗi suất ăn chỉ có xiên thịt gà khô, lèo tèo vài cọng giá, ít thịt băm. Từ khay cơm ấy, nhiều câu hỏi cứ thế hiện ra. Trẻ em đang được ăn gì ở trường? Những gì các em nhận được có tương xứng với khoản tiền cha mẹ phải đóng? Và quan trọng hơn, người lớn đã thực sự đặt mình vào vị trí của một đứa trẻ khi quyết định bữa ăn cho các em hay chưa? Điều phụ huynh luôn mong muốn là một bữa cơm đàng hoàng, được chuẩn bị bằng sự cẩn trọng và trách nhiệm. Nhưng nhìn vào những suất ăn quá đỗi sơ sài, người ta không khỏi chạnh lòng. Bởi trẻ em là đối tượng rất ít khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trong câu chuyện này. Mỗi đứa trẻ chỉ biết ngồi xuống, mở khay cơm và ăn. Nếu thấy ngon, em ăn hết. Nếu không thích, em bỏ lại. Nếu chưa no, có khi em cũng chẳng biết phải nói với ai. Trẻ con vốn vậy, nhiều khi chấp nhận những điều người lớn cho rằng “có gì đâu”. Nhưng chính sự im lặng ấy mới khiến người lớn phải lo. Bởi một đứa trẻ không biết cách đòi hỏi không có nghĩa là em không có quyền được nhận những điều tốt đẹp hơn. Và từ đó, một câu hỏi nhạy cảm nhưng cần được đặt ra: liệu có khi nào người lớn đang “ăn” trên bữa ăn của trẻ em? Không nên vội vàng quy kết. Một suất cơm ít món chưa thể là bằng chứng của việc cắt xén. Muốn biết có hay không chuyện đó phải nhìn vào thực đơn, định lượng, giá nguyên liệu, chi phí tổ chức, hợp đồng cung ứng và cách nhà trường giám sát từng khâu. Nhưng nếu mọi thứ đều minh bạch, câu hỏi ấy càng cần được trả lời rõ ràng. Bởi đó là niềm tin cha mẹ gửi gắm và mong con mình được chăm sóc. Điều đáng sợ không chỉ là một miếng thịt bị nhỏ đi hay một phần rau bị ít lại mà sự cắt xén, “tham nhũng vặt” trở thành một thứ “bình thường” trong suy nghĩ của người lớn. Khi ấy, người chịu thiệt vẫn là trẻ em. Bữa ăn bán trú cần được nhìn nhận như một phần của chất lượng giáo dục, chứ không phải việc “ăn uống” đứng bên lề trường học. Có lẽ người lớn nên một lần ngồi xuống thật lâu trước một khay cơm của trẻ, nhìn những món ăn trên đó, nhìn những gương mặt nhỏ tuổi đang ăn để rồi tự hỏi: Nếu đây là bữa trưa của chính con mình, ta có thực sự yên lòng? Phía sau một khay cơm không chỉ là tiền, thực phẩm hay khẩu phần. Ở đó còn có sự tin tưởng của cha mẹ, trách nhiệm của nhà trường và quyền lợi của một đứa trẻ. Liệu trong hành trình lớn lên, các em có đang vô tình trở thành nơi để người lớn tiết kiệm, cắt giảm, thậm chí trục lợi từ những điều vốn thuộc về mình hay không. NG.H Khay cơm và lòng tin TIẾP THEO TRANG 1 chương trình, các sự kiện văn hóa mới có thể tạo hiệu quả dài hạn, thay vì kết thúc cùng thời điểm sân khấu khép lại. Hà Nội hiện có gần 6.000 di tích, khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề, cùng hàng nghìn di sản văn hóa phi vật thể. Đạo diễn Phạm Hoàng Giang lưu ý một nghịch lý trong việc tiếp cận công chúng trẻ. Đây là nhóm sẵn sàng chi tiêu cho nhu cầu giải trí, trải nghiệm, thưởng thức và mua sắm, nhưng sức mua dành cho những sản phẩm văn hóa mang bản sắc Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nguyên nhân nằm ở việc một số sản phẩm chưa đủ sức hút, sự liên kết giữa các lĩnh vực còn hạn chế, trong khi việc nghiên cứu nhu cầu công chúng và xây dựng sản phẩm trong một hệ sinh thái tổng thể chưa được thực hiện đầy đủ. Vì vậy, định hướng chuyển từ những hoạt động riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo của Hà Nội là hướng đi cần thiết. Hệ sinh thái này cần kết nối sự kiện, không gian văn hóa, sản phẩm sáng tạo, du lịch, thương mại và các dịch vụ liên quan, từ đó tạo thêm những cách tiếp cận công chúng phù hợp với nhu cầu mới. Ở góc độ hạ tầng và không gian văn hóa, đạo diễn Phạm Hoàng Giang cho rằng Hà Nội vẫn thiếu những không gian và dịch vụ văn hóa đủ sức hấp dẫn để trở thành các điểm đến nổi bật. Thực tế đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu kỹ và lựa chọn những bước đột phá thay vì phát triển dàn trải. “Hà Nội cần một quy hoạch tổng thể và đồng bộ, xác định rõ những giá trị văn hóa cốt lõi, đâu là nhóm lĩnh vực nòng cốt để tập trung nguồn lực quảng bá và phát triển”, ông Phạm Hoàng Giang nói. Mục tiêu xa hơn là đưa Hà Nội hiện diện rõ nét hơn trên bản đồ văn hóa quốc tế, đặt Thủ đô trong tương quan với các thành phố di sản lớn trên thế giới. Muốn vậy, bên cạnh khai thác kho tàng di sản hiện có, Hà Nội cần những công trình, không gian và sự kiện điểm nhấn có bản sắc riêng, đủ khả năng tạo nhận diện đối với công chúng quốc tế. Khi các yếu tố từ di sản, không gian, sự kiện đến sản phẩm và dịch vụ được kết nối thành một hệ thống, Hà Nội sẽ có điều kiện hình thành những “điểm hội tụ văn hóa” thực sự, vừa phục vụ đời sống người dân, vừa tạo sức hút đối với du khách và công chúng quốc tế. Kế hoạch xác định lộ trình thực hiện từ năm 2026 đến năm 2030 theo hướng kế thừa, liên tục và có trọng tâm. Giai đoạn 2027-2028 tập trung lan tỏa giá trị, kết nối nguồn lực, hình thành các chuỗi hoạt động hưởng ứng có chủ đề, bản sắc, tăng cường liên kết giữa địa phương, thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo, trường học, doanh nghiệp và cộng đồng. Giai đoạn 2029-2030 tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa; từng bước định vị Ngày Văn hóa Việt Nam trở thành hoạt động chính trị - văn hóa thường niên mang bản sắc, dấu ấn riêng của Hà Nội, gắn với phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa và nền kinh tế văn hóa. NGỌC ÁNH đến hấp dẫn chỉ từng động tác múa; lớp trẻ chăm chú lắng nghe, đôi tay còn vụng về nhưng dần quen với âm thanh đã gắn bó với đời sống cộng đồng qua nhiều thế hệ. Ông Păng Ting Mút, Chủ nhiệm CLB Gia đình văn hóa cho rằng, việc người trẻ chủ động học và thực hành cồng chiêng là tín hiệu đáng mừng trong hành trình gìn giữ văn hóa. Người già giữ được tiếng chiêng, nhưng nếu người trẻ không tiếp nhận thì văn hóa cũng khó đi xa. “Muốn văn hóa sống được thì phải có người trẻ sống cùng nó. Các cháu có thể dùng những cách mới, mạng xã hội hay hoạt động du lịch để giới thiệu văn hóa, nhưng cái gốc thì phải giữ. Mình làm mới cách kể, chứ không làm mất đi cái hồn của cha ông”, ông Mút chia sẻ. ĐỂ DI SẢN TRỞ THÀNH NGUỒN LỰC Nhưng truyền dạy thôi chưa đủ. Câu hỏi lớn hơn là người trẻ sẽ sống thế nào cùng di sản? Khi cồng chiêng bước vào du lịch, nghệ nhân có thêm thu nhập, người trẻ có thêm cơ hội thực hành, còn cộng đồng có thêm không gian để kể câu chuyện của chính mình. Song, giữa đưa di sản đến gần công chúng và biến nó thành tiết mục biểu diễn đơn thuần vẫn là ranh giới cần được giữ gìn. Nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên Đặng Minh Tâm cho rằng, muốn cồng chiêng trở thành sản phẩm du lịch bền vững, trước hết phải giữ được những giá trị mộc mạc, nguyên bản. Người biểu diễn không chỉ đánh chiêng cho du khách xem mà cần kể được câu chuyện về buôn làng, về ý nghĩa của cồng chiêng trong đời sống cộng đồng. Khi đó, du khách không chỉ xem mà thực sự bước vào một không gian văn hóa. Theo ông Tâm, di sản phải được sống và thực hành trong những điều kiện mới. Người trẻ có thể học cồng chiêng, dùng mạng xã hội để kể câu chuyện văn hóa của mình; nghệ nhân truyền nghề nhưng cũng cần có sinh kế từ công việc ấy. Du lịch có thể khai thác di sản, nhưng cộng đồng phải là chủ thể và được hưởng lợi. Tại tọa đàm khoa học về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế tại Lâm Đồng mới đây, TS Nguyễn Tiến Thư - Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển nhận định: Văn hóa truyền thống Lâm Đồng không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là nguồn lực quan trọng cho quá trình phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới. Điều quan trọng là đặt người dân vào trung tâm của quá trình bảo tồn, để họ vừa là người gìn giữ, vừa là chủ thể sáng tạo và được hưởng lợi từ những giá trị văn hóa của chính cộng đồng mình. “Chúng ta bảo tồn văn hóa không phải để níu giữ quá khứ, mà để quá khứ tiếp tục sống trong hiện tại, góp phần làm giàu cho tương lai”, TS Nguyễn Tiến Thư nhấn mạnh. Không chỉ ở các bon, những giá trị ấy đang được trao cho thế hệ nhỏ hơn. Giữa tháng 8, hơn 200 thiếu nhi đến từ 8 xã vùng biên Lâm Đồng đã tham gia Liên hoan Tiếng hát thiếu nhi các dân tộc năm 2026 với chủ đề “Tiếng hát nối liền bản làng”. Bên cạnh các ca khúc về quê hương và đất nước, nhiều tiết mục lại mang đậm sắc màu văn hóa của từng cộng đồng. Chiều xuống dưới chân Lang Biang, những nhịp chiêng vẫn nối nhau. Người già kiên nhẫn truyền lại, người trẻ tiếp nhận, rồi mang những thanh âm ấy đến những không gian mới. Có thể con đường của di sản hôm nay đã khác, nhưng khi vẫn còn người cầm chiêng, người dạy và người muốn học, mạch văn hóa ấy vẫn còn cơ hội tiếp tục chảy. T. L Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XIII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Mỗi chặng đường phát triển của đất nước đều có dấu ấn sâu đậm của những người trẻ biết đặt Tổ quốc lên trên hết, biến tình yêu nước thành ý chí hành động, thành khát vọng vươn lên, thành những việc làm thiết thực phục vụ Nhân dân, dựng xây, phát triển đất nước”. Tại Lâm Đồng, thông điệp ấy đang được tuổi trẻ cụ thể hóa bằng những lựa chọn rất gần gũi: trở về với buôn làng, giữ gìn văn hóa bản địa, làm chủ công nghệ, khởi nghiệp, tình nguyện vì cộng đồng và góp sức xây dựng quê hương. Khi các yếu tố từ di sản, không gian, sự kiện đến sản phẩm và dịch vụ được kết nối thành một hệ thống, Hà Nội sẽ có điều kiện hình thành những “điểm hội tụ văn hóa” Nghệ nhân truyền dạy những nhịp chiêng, điệu múa truyền thống cho lớp trẻ

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==