Báo Tiền Phong số 253

12 QUỐC TẾ n Thứ Năm n Ngày 10/9/2026 Cùng với hợp tác công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực đang được xem là một trong những nền tảng quan trọng để Việt Nam phát triển ngành năng lượng hạt nhân. KINH NGHIỆM TỪ UAE Trao đổi với PV Tiền Phong, PGS.TS Nguyễn Phong Điền - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng đào tạo nhân lực cho dự án điện hạt nhân cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan ngay từ đầu. Bài học từ UAE cho thấy một quốc gia chưa có nền tảng về điện hạt nhân vẫn có thể xây dựng thành công chương trình điện hạt nhân trong thời gian tương đối ngắn, nếu có chiến lược đào tạo nhân lực phù hợp. UAE đã triển khai chương trình phát triển điện hạt nhân trong khoảng 15 năm, từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến vận hành thương mại nhà máy. Đáng chú ý, ngay sau khi Chính phủ chính thức công bố quyết định phát triển điện hạt nhân, Đại học Khalifa đã triển khai chương trình đào tạo Thạc sĩ Khoa học ngành Kỹ thuật hạt nhân vào tháng 9/2010. Một điểm quan trọng trong mô hình này là đào tạo gắn với nhu cầu thực tế của chương trình điện hạt nhân. Phần lớn học viên được tuyển dụng bởi các bên liên quan chính, đồng thời có nền tảng và kinh nghiệm trong các lĩnh vực kỹ thuật, năng lượng. Hoạt động nghiên cứu tại trường cũng gắn với nhu cầu của các đơn vị trong chương trình điện hạt nhân. Theo PGS.TS Nguyễn Phong Điền, đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo: Đào tạo phải đi cùng nhu cầu sử dụng nhân lực, nghiên cứu phải gắn với bài toán công nghệ và doanh nghiệp phải tham gia ngay từ quá trình đào tạo. MÔ HÌNH CHUẨN NGA Với chương trình điện hạt nhân Ninh Thuận, bài toán nhân lực liên quan tới nhiều chủ thể: đơn vị đầu tư, sở hữu và vận hành như EVN, PVN; cơ quan pháp quy như Cục An toàn và bức xạ hạt nhân (VARANS); các cơ sở nghiên cứu như Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM), cùng các trường đại học kỹ thuật. Theo PGS.TS Nguyễn Phong Điền, các bên cần xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực theo từng giai đoạn một cách đồng bộ, thay vì đào tạo riêng lẻ. Một hướng đi được đề xuất là thúc đẩy hợp tác giữa VINATOM với các trường đại học kỹ thuật hàng đầu trong nước, đồng thời phối hợp với các trường đại học uy tín trên thế giới để xây dựng chương trình đào tạo từ ngắn hạn đến dài hạn, từ bậc đại học đến tiến sĩ. Quan trọng hơn, quá trình đào tạo cần gắn với cam kết sử dụng nhân lực của các đơn vị trong ngành. Bên cạnh EVN, PETROVIETNAM, trong tương lai sẽ cần một mạng lưới doanh nghiệp tham gia vào nền công nghiệp hạt nhân, từ bảo trì, bảo dưỡng đến nhiên liệu, chế tạo thiết bị và các bộ phận chuyên dụng. Đây chính là cơ sở để hình thành mô hình hợp tác “ba nhà” giữa Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp, trong đó đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu công nghệ được kết nối thành một hệ sinh thái thống nhất. Nga hiện có chính sách cấp học bổng Chính phủ, thông qua Rosatom và Bộ Giáo dục và Khoa học Nga, để đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam. Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Phong Điền, hợp tác Việt - Nga có thể tiến xa hơn việc đưa sinh viên sang Nga học tập. Ngoài việc tiếp nhận và hỗ trợ đào tạo sinh viên, TS Nguyễn Phong Điền mong muốn phía Nga, thông qua Tập đoàn Rosatom và các trường đại học, viện nghiên cứu danh tiếng của mình, thiết lập trung tâm đào tạo và nghiên cứu liên ngành về năng lượng hạt nhân, bước đầu cử chuyên gia, giảng viên giàu kinh nghiệm xây dựng chương trình đào tạo chuẩn (Nga) về điện hạt nhân. Đội ngũ này cùng tham gia giảng dạy và bồi dưỡng lực lượng giảng viên, từng bước hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm phục vụ đào tạo và nghiên cứu, từ đó hình thành các dự án nghiên cứu chung, dần hình thành mô hình hợp tác “ba nhà” để tạo nguồn nhân lực vững mạnh phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân, tiến tới đủ khả năng phát triển công nghệ chiến lược. Nếu được triển khai đồng bộ, mô hình này không chỉ tạo nguồn nhân lực cho một dự án cụ thể mà còn góp phần xây dựng nền tảng nhân lực cho cả ngành công nghiệp hạt nhân Việt Nam. Theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), với những quốc gia đã có chương trình đào tạo về kỹ thuật, công nghệ hạt nhân ở bậc đại học, cần kết hợp đầu tư cơ sở hạ tầng với hợp tác đào tạo cùng các cơ sở đại học mạnh về điện hạt nhân tại các quốc gia phát triển và các quốc gia cung cấp công nghệ. Mục tiêu là xây dựng một cơ sở đào tạo kỹ thuật hạt nhân đủ mạnh làm nòng cốt cho chương trình phát triển dài hạn. THU LOAN - NGHIÊM HUÊ Việc Việt Nam và Nga ký thỏa thuận xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 mở ra chặng đường mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước. Đây không chỉ là câu chuyện về xây dựng một nhà máy điện. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Nga từ ngày 7-9/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên tiếp tục thúc đẩy hợp tác về công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác. Đòn bẩy cho điện hạt nhân Ảnh minh họa nhà máy điện hạt nhân MÔ HÌNH “BA NHÀ”: Việc công bố những tài liệu này diễn ra trước thềm tưởng niệm 25 năm vụ tấn công ngày 11/9/2001 - sự kiện đã cướp đi sinh mạng của 2.977 người tại Mỹ, phần lớn là trong vụ sụp đổ tòa Tháp đôi ở New York. Theo một chương trình giám sát y tế của liên bang, trong những năm sau đó, hơn 9.400 người đã tử vong vì các căn bệnh liên quan đến việc tiếp xúc với khu vực này. Từ đám mây bụi khổng lồ bốc lên ngay sau khi Tháp đôi sụp đổ, tình trạng ô nhiễm và bụi bặm kéo dài suốt nhiều tháng đã gây ra các bệnh ung thư mà hàng ngàn người dân New York vẫn đang phải gánh chịu cho đến ngày nay. Việc công bố này nằm trong khuôn khổ thỏa thuận với 9/11 Health Watch - một nhóm bảo vệ quyền lợi các nạn nhân từng khởi kiện để buộc thành phố phải công khai những tài liệu nói trên. “Trong suốt 25 năm, bốn chính quyền của các thị trưởng khác nhau đã giấu kín công chúng, Quốc hội Mỹ và Hội đồng Thành phố những tài liệu cho thấy thành phố thực sự biết gì về mối nguy hại từ các hóa chất độc hại ở Hạ Manhattan và phía Tây Brooklyn sau vụ sụp đổ của Tháp đôi, ngay cả khi các quan chức thành phố vẫn tiếp tục trấn an người dân rằng không khí an toàn và ở mức chấp nhận được”, ông Benjamin Chevat - người đứng đầu nhóm 9/11 Health Watch - cho biết trong một tuyên bố. Khi được hỏi về danh tính các quan chức đã giấu giếm thông tin với công chúng, Thị trưởng Mamdani nói: “Vấn đề này liên quan đến rất nhiều người từng được người dân New York tin tưởng. Người dân đổ bệnh vì những nhà lãnh đạo mà họ tin tưởng đã nói dối, khẳng định rằng họ vẫn an toàn khi hít thở bầu không khí độc hại”. Ngoài khoảng 173.000 tài liệu được công bố vào ngày 8/9, các tài liệu bổ sung sẽ được đăng tải trực tuyến theo từng đợt trong 12 tháng tới, có thể liên quan đến hai cựu thị trưởng New York. Đó là ông Rudy Giuliani - thị trưởng đương nhiệm vào thời điểm xảy ra các vụ tấn công, và ông Michael Bloomberg - thị trưởng từ tháng 1/2002 đến tháng 12/2013. Một số tài liệu đề cập đến các cuộc thảo luận của chính quyền ông Giuliani vào thời điểm đó về trách nhiệm pháp lý và những rủi ro đối với sức khỏe người dân. Một tài liệu khác nêu thông tin do Hạ nghị sĩ Jerry Nadler cung cấp trong nhiệm kỳ của ông Bloomberg, liên quan đến những lo ngại của cư dân khu Hạ Manhattan về chất lượng không khí. MINH HẠNH (Theo Straitstimes) PGS.TS Nguyễn Phong Điền, Phó Giám đốc ĐH Bách khoa Hà Nội New York “giải mật” 170.000 tài liệu liên quan vụ 11/9 Theo Thị trưởng New York Zohran Mamdani, việc phát hành hàng chục nghìn tài liệu cho thấy thành phố đã không công khai toàn bộ thông tin mà họ nắm được về tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề sau vụ khủng bố 11/9. Khói bụi bốc lên sau khi Trung tâm Thương mại Thế giới (tháp đôi) bị tấn công ngày 11/9/2001 ẢNH: NY TIMES Vào ngày 11/9/2001, những kẻ không tặc đã chiếm quyền kiểm soát hai chiếc máy bay và đâm chúng vào hai tòa tháp của Trung tâm Thương mại Thế giới. Chiếc máy bay thứ ba bị không tặc đã đâm vào Lầu Năm Góc. Còn chiếc thứ tư - dường như đang trên đường tới Điện Capitol hoặc Nhà Trắng - đã rơi xuống một khu vực rừng cây gần Shanksville (bang Pennsylvania), sau khi các hành khách chống trả và giành lại quyền kiểm soát.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==