Báo Tiền Phong số 252

9 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Tư n Ngày 9/9/2026 CHUYỆN HÔM NAY Một thành phố muốn đổi mới là điều tự nhiên. Nhưng Hồ Gươm thì khác. Bởi nơi đây vốn đã là một biểu tượng. Không cần một cánh cổng khổng lồ để người ta biết mình đang đứng ở trung tâm Hà Nội. Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, mặt nước, những hàng cây và những con phố cũ đã tạo nên một không gian mà mỗi người Hà Nội, mỗi du khách khi bước tới đều có thể nhận ra ngay: Đây là Hồ Gươm. Giá trị ấy không nằm ở một công trình riêng lẻ. Nó nằm trong ký ức. Và ký ức thì không thể cứ muốn là xây thêm. Điều đáng suy nghĩ hơn là cái tên “Khải Hoàn Môn”. Hồ Hoàn Kiếm gắn với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm. Sau chiến tranh là hòa bình; khi đất nước đã yên, thanh gươm được trả lại cho Thần Kim Quy. Qua thời gian, câu chuyện ấy trở thành một biểu tượng đẹp về khát vọng hòa bình của người Việt. Trong khi đó, khải hoàn gợi đến chiến thắng, đoàn quân trở về và những khúc ca mừng chiến thắng. Hai ý niệm ấy không nhất thiết đối lập, nhưng rõ ràng không cùng một cung bậc. Vì vậy, trước khi dựng một biểu tượng mới bên Hồ Gươm, có lẽ nên đặt một câu hỏi giản dị: Hà Nội muốn kể câu chuyện gì về chính mình? Một đô thị hiện đại không có nghĩa là mọi khoảng trống đều phải được lấp đầy bằng bê tông. Ngược lại, có những khoảng trống, những hàng cây, những mặt nước… càng được giữ lại nguyên vẹn càng trở nên quý giá. Từ những con phố cổ nhỏ hẹp như Hàng Đào bước ra Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, không gian bỗng mở rộng. Trước mắt là hàng cây, mặt nước Hồ Gươm và Tháp Rùa. Sự chuyển tiếp ấy tự nhiên đến mức dường như không cần thêm bất kỳ một cánh cổng nào. Hồ Gươm, trong tâm thức dân tộc từ lâu đã là một “kiến trúc” đặc biệt. Một kiến trúc được tạo nên bởi thời gian, ký ức và đời sống cộng đồng. Vì thế, điều Hà Nội cần cân nhắc hôm nay có lẽ không chỉ là công trình mới đẹp đến đâu, cao bao nhiêu, mà là sau khi chỉnh trang, Hồ Gươm còn giữ được vẻ đẹp của Hồ Gươm hay không. Có những thứ nếu mất đi, tiền bạc không thể mua lại. Có những không gian nếu đã bị thay đổi, thế hệ sau không thể phục dựng nguyên vẹn bằng một bản vẽ. Hồ Gươm là một trong những di sản như thế. Hà Nội cần những công trình mới để đi tới tương lai. Nhưng với Hồ Gươm, có khi điều thể hiện tầm nhìn xa nhất lại là biết giữ lại những gì thời gian đã trao cho thành phố hơn ngàn năm tuổi. Một đô thị văn minh không chỉ biết xây những biểu tượng mới. Mà còn phải biết trân trọng, giữ gìn những biểu tượng gắn với lịch sử của nó. Hồ Gươm đã là một biểu tượng. Câu hỏi lúc này không phải là có thể xây thêm gì, mà là có nên xây thêm hay không. Có những nơi, điều khó nhất không phải là xây thêm một công trình, mà là biết dừng lại đúng lúc. Hồ Gươm có lẽ là một nơi không cần xen cấy gì thêm. N.T Hồ Gươm có cần thêm biểu tượng? TIẾP THEO TRANG 1 CÁI GIÁ KHÔNG CHỈ LÀ DOANH THU Điều khiến giới chuyên môn lo ngại sau trường hợp Hộ linh tráng sĩ là tác động tới những dự án cùng thể loại trong tương lai. Sự đầu tư lớn hơn cùng mức độ quan tâm của thị trường tạo ra kỳ vọng rằng thể loại vốn được xem là khó làm này có thể tìm được chỗ đứng rộng hơn tại phòng vé. Kết quả chưa như kỳ vọng của Hộ linh tráng sĩ có thể khiến nhà đầu tư thận trọng hơn. Chuyên gia Nguyễn Anh Tuấn nhìn thấy rủi ro tương tự. Theo ông, Hộ linh tráng sĩ đã tạo ra một tiêu chuẩn đáng chú ý về đầu tư, thiết kế và tổ chức sản xuất đối với dự án huyền sử, cổ trang. Vì thế, việc một tác phẩm có quy mô như vậy không đạt kỳ vọng doanh thu có thể thử thách niềm tin của nguồn vốn dành cho thể loại này. Nếu tiếp tục có những dự án lịch sử, huyền sử, cổ trang được đầu tư lớn nhưng không đạt hiệu quả thương mại, khả năng huy động vốn cho các bộ phim tương tự sẽ ngày càng khó khăn. Bài học từ Hộ linh tráng sĩ không nằm ở việc phim lịch sử có nên tiếp tục được đầu tư hay không. Hai chuyên gia cùng chỉ ra vấn đề nằm ở thứ tự ưu tiên: quy mô sản xuất, phục trang, bối cảnh hay kỹ thuật chỉ phát huy giá trị khi được đặt trên nền tảng của một kịch bản đủ tốt và cách kể chuyện đủ sức giữ người xem. Với những dự án lịch sử, huyền sử đang được thực hiện, áp lực sau Hộ linh tráng sĩ vì thế không chỉ là làm lớn hơn hay đẹp hơn. Trước khi thuyết phục nhà đầu tư bỏ thêm tiền cho những đại cảnh, tác phẩm phải trả lời được câu hỏi cơ bản hơn: Câu chuyện có đủ hấp dẫn để khán giả bỏ tiền mua vé? BÀI HỌC TỪ PHIÊN BẢN 155 PHÚT Ồn ào suốt hơn một tuần qua của Hộ linh tráng sĩ với hàng loạt bài bình luận, khen chê trái chiều cũng đặt ra vấn đề về quá trình hoàn thiện một bộ phim trước khi chính thức đưa tới khán giả. Từ trường hợp phim phải ra mắt bản dựng rút gọn, chuyên gia cho rằng khâu dựng phim cần một góc nhìn đủ độc lập với quá trình ghi hình. Một đạo diễn đã dành nhiều thời gian và công sức tại trường quay thường có xu hướng muốn giữ những cảnh mình tâm đắc. Nhưng với phiên bản cuối cùng, câu hỏi quan trọng không phải cảnh quay tốn bao nhiêu tiền hay mất bao nhiêu công sức thực hiện, mà là nó có thực sự cần thiết với câu chuyện hay không. Người dựng phim vì vậy cần tiếp cận tư liệu với một tâm thế tương đối độc lập, dựa trên kịch bản, cấu trúc phim và hiểu biết về khán giả. Đạo diễn sau đó tiếp tục làm việc với bản dựng để bảo đảm ý đồ nghệ thuật. Quy trình này ở Hộ linh tráng sĩ có thể chưa được thực hiện chặt chẽ. Phiên bản ban đầu của phim có thời lượng 155 phút. Sau khi phim ra rạp và nhận những phản hồi trái chiều, ê-kíp đưa ra phiên bản rút gọn còn 135 phút. Việc chỉnh sửa cho thấy nhà sản xuất lắng nghe phản hồi, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi về khâu chiếu thử và hoàn thiện tác phẩm trước ngày phát hành. Test screening - chiếu thử cho một nhóm khán giả hoặc hội đồng chuyên môn trước khi ra rạp - có thể giúp nhà sản xuất phát hiện những vấn đề về nhịp phim, câu chuyện và cách tiếp nhận của người xem. Những phản hồi này là cơ sở để tiếp tục điều chỉnh trước khi "khóa" phiên bản thương mại. Trường hợp Hộ linh tráng sĩ, theo chuyên gia, các dự án quy mô lớn càng cần dành đủ thời gian cho giai đoạn này. NGỌC ÁNH cả điều kiện tự nhiên của vùng đất ấy. Dù phát triển ở đâu, tôi vẫn muốn giữ nguyên bản sắc văn hóa, tôn trọng giá trị truyền thống của các dân tộc”, Lệ nói. Vì vậy, quán không cố dựng một ‘buôn làng thu nhỏ’. Tre, gỗ, thổ cẩm và cây xanh được sử dụng vừa đủ. Với Lệ, giữ hồn món ăn quan trọng hơn việc tạo ra một không gian giống buôn làng. Cô tìm đến các buôn Ê Đê ở Đắk Lắk để mua lá mì, lá bép, cà đắng, cá khô cùng các loại gia vị như củ ném, ớt rừng, cỏ ngọt. “Nguyên liệu đúng vị thì món ăn mới ‘ra hồn’. Mình không thay thế lá bép bằng loại rau khác, hay dùng ớt thường thay ớt rừng. Mỗi loại gia vị đều có lý do tồn tại trong món ăn của đồng bào”, Lệ chia sẻ. Trong gian bếp, Pipur Thôi, đầu bếp trẻ người Ê Đê, cũng tìm thấy ký ức của mình qua những nguyên liệu quen thuộc. Theo Thôi, món ăn Tây Nguyên không cầu kỳ, phần lớn nguyên liệu đến từ tự nhiên, cách chế biến đơn giản. Cái khó là giữ vị gốc nhưng vẫn giúp thực khách lần đầu thưởng thức có thể tiếp nhận. “Được mang những món ăn truyền thống của dân tộc mình đến với thực khách trong và ngoài nước, tôi rất tự hào. Đó cũng là cách người trẻ chúng tôi gìn giữ văn hóa và đưa những giá trị ấy đến gần hơn với cộng đồng”, Thôi nói. Khi trời tối, những bàn ăn dưới tán thông bắt đầu kín khách. Nguyễn Hoàng Vinh, du khách đến từ Vĩnh Long, cho biết anh biết đến quán qua mạng xã hội và quyết định thử những món trước đó chưa từng thưởng thức. Anh nhớ nhất vị tê cay của cà giã, măng xào ớt và thịt nướng muối kiến vàng. “Các món có vị khá lạ nhưng rất vừa ăn. Khác hẳn khẩu vị miền Tây, nhưng chính sự mới lạ ấy lại tạo cảm giác thích thú”, Vinh nói. VĂN HÓA ĐƯỢC TRẢI NGHIỆM Từ những món ăn gắn với ký ức buôn làng được đưa vào các căn bếp giữa phố Đà Lạt, câu chuyện tìm "đường sống" cho văn hóa bản địa đang mở rộng ra vùng nông thôn Lâm Đồng. Tại xã Quảng Lập, Avocado Farm là một điểm du lịch nông nghiệp trải nghiệm, kết hợp sản xuất nông nghiệp, lưu trú và khám phá văn hóa Churu. Du khách có thể trực tiếp tham gia sản xuất, thưởng thức các món như cà đắng nấu da trâu, cá suối nướng lá rừng; tìm hiểu nghề gốm, làm nhẫn bạc, rượu cần và giao lưu cồng chiêng với người Churu. Điểm đáng chú ý là các giá trị bản địa được kết nối thành một chuỗi: nông sản tạo ra món ăn, món ăn dẫn đến câu chuyện văn hóa, còn du lịch đưa du khách đến gần hơn với làng nghề và đời sống cộng đồng. Anh Phan Thanh Nhân, người sáng lập Avocado Farm, cho biết trang trại đang liên kết với các hộ dân trong vùng để xây dựng chuỗi giá trị từ những sản phẩm đặc trưng của địa phương. Theo anh, du lịch không chỉ nâng giá trị nông sản mà còn tạo động lực gìn giữ cảnh quan, văn hóa và sinh kế bền vững cho người dân. Tuy nhiên, anh Nhân cho rằng "nút thắt" hiện nay là người dân chưa biết cách kể câu chuyện của chính mình. Đó là câu chuyện về đất, về nghề, về văn hóa và hành trình gìn giữ bản sắc. “Cần tập huấn kỹ năng làm du lịch, giao tiếp và kể chuyện để người dân có thể trực tiếp giới thiệu những giá trị của quê hương đến du khách”, anh Nhân nói. Từ vườn bơ đến những sản phẩm gốm mộc, từ bữa ăn truyền thống đến tiếng cồng chiêng, những trải nghiệm ở Quảng Lập cho thấy văn hóa có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị du lịch và sinh kế. T. L Những món ăn gắn với buôn làng vào phố núi Đà Lạt Ông Nguyễn Văn Thành - Giám đốc một doanh nghiệp lữ hành tại Đà Lạt cho biết: Nhu cầu trải nghiệm du lịch cộng đồng, nhất là khách quốc tế tăng trong những năm gần đây. Theo ông, sức hút nằm ở trải nghiệm văn hóa chân thực, thiên nhiên và sự tương tác với người dân bản địa. Tuy nhiên, ông Thành cũng lưu ý, đây cũng là “con dao hai lưỡi”: nếu chạy theo lợi nhuận, thương mại hóa hoặc làm biến đổi các giá trị truyền thống, điểm đến có thể đánh mất chính sức hút của mình. Hộ linh tráng sĩ đối diện nguy cơ thua lỗ nặng khi chỉ thu hơn 30 tỷ đồng sau 10 ngày ra rạp, với khoảng 1.100 suất chiếu mỗi ngày. "Điều khán giả quan tâm không còn là bộ phim này có diễn viên như thế nào, sử dụng những tư liệu lịch sử, huyền sử ra sao, mức độ đầu tư hoành tráng ở khía cạnh nào. Quan trọng nhất là câu chuyện ấy có đủ sức hấp dẫn để kéo khán giả ra rạp và khiến họ cảm thấy thời gian, số tiền bỏ ra mua vé xứng đáng hay không". Chuyên gia phân tích

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==