Báo Tiền Phong số 234-235

22-23/8/2026 www.tienphong.vn XÃ HỘI 8 PHẢI MUA VÉ ĐỂ XEM PHIM DỞ ĐẾN MỨC NÀO Ngày 5/8, Ngưu Lai lặng lẽ ra rạp Trung Quốc trong tình cảnh khó có thể ảm đạm hơn. Sau 10 ngày, bộ phim hoạt hình chỉ thu hơn 7.700 nhân dân tệ (gần 30 triệu đồng), con số thấp đến mức gần như phi lí ở đất nước tỷ dân. Thiếu chiến dịch quảng bá lẫn ngôi sao, ê-kíp thậm chí còn chẳng gửi poster đến các rạp. Một số rạp phải tự vẽ hình nhân vật, đóng khung đặt bên ngoài để giới thiệu phim. Rồi mọi chuyện bất ngờ đổi chiều. Những hình ảnh của Ngưu Lai bắt đầu xuất hiện trên mạng xã hội. Tạo hình nhân vật thô sơ, chuyển động vụng về, cách dựng cảnh ngây ngô khiến nhiều người kinh ngạc vì một bộ phim như vậy có thể xuất hiện trên màn ảnh rộng. Có người gọi đây là phim hoạt hình “tệ nhất Trung Quốc năm 2026”, người khác đùa rằng hình ảnh “ngây ngô đến mức AI cũng phải bó tay”. Những lời chê đáng lẽ có thể chấm dứt số phận một bộ phim nhỏ bất ngờ lại trở thành lời quảng cáo hiệu quả nhất cho Ngưu Lai. Người ta bắt đầu tò mò xem phim thực sự dở đến mức nào. Tâm lý này kéo khán giả đến rạp. Ngày 16/8, từ khóa liên quan đến việc doanh thu Ngưu Lai tăng 1.000 lần thu hút hàng trăm triệu lượt xem trên Weibo. Những video ghi lại cảnh phòng chiếu đông người tiếp tục được chia sẻ. Khán giả cười trước những tình tiết ngây ngô, quay lại phản ứng của nhau rồi đưa lên mạng. Theo thông tin cập nhật trong những ngày sau đó, doanh thu phim tiếp tục tăng mạnh. Đứng sau sản phẩm gây tranh cãi ấy là một ê-kíp chỉ có hai người là đạo diễn Tín Vũ Manh, 34 tuổi, và mẹ anh, bà Tôn Lệ Phương. Hai mẹ con mất khoảng năm năm để hoàn thành Ngưu Lai với kinh phí khoảng 100.000 nhân dân tệ (khoảng 387 triệu đồng), không có nhà đầu tư và không thuê thêm nhân sự. Tín Vũ Manh phải mua thiết bị ở chợ đồ cũ để phục vụ quá trình sản xuất. Để tối ưu chi phí, bà Tôn Lệ Phương còn tự hát ca khúc cuối phim. Sự thô sơ của Ngưu Lai cũng không được che giấu khi phim ra rạp. Có rạp thậm chí đặt thông báo trước suất chiếu rằng nội dung và chất lượng phim “có thể không làm bạn hài lòng”, đồng thời cho phép khán giả hoàn vé trong 10 phút đầu. Trong một thời đại mà điện ảnh đã được định hình bằng những poster bắt mắt, những trailer được tính toán kỹ và những chiến dịch quảng bá triệu USD thì cách Ngưu Lai xuất hiện gần như đi ngược mọi thông lệ. Theo nhà phê bình Thảo Đan, hiện tượng này gợi đến khái niệm “so bad it’s good” (dở quá hóa tốt) trong văn hóa đại chúng: một sản phẩm thất bại ở tiêu chuẩn thông thường nhưng chính sự vụng về quá mức lại tạo ra khoái cảm thưởng thức khác. Nhà phê bình Thảo Đan dẫn ví dụ về phim Căn phòng (The Room) của Tommy Wiseau sản xuất năm 2003 nổi tiếng toàn cầu vì dở đến mức trở thành hiện tượng văn hóa “phim cult” kinh điển. Đây là thuật ngữ chỉ những tác phẩm điện ảnh không được đại chúng hoặc giới phê bình đánh giá cao khi mới ra mắt, thậm chí lỗ vốn nặng ở phòng vé. Tuy nhiên, phim sở hữu một nhóm nhỏ người hâm mộ vô cùng trung thành, cuồng nhiệt đến mức tôn sùng tác phẩm như một thứ tín ngưỡng riêng biệt. Với Ngưu Lai, trải nghiệm ấy còn được mạng xã hội khuếch đại. Khán giả muốn tận mắt kiểm chứng hiện tượng đang gây tranh cãi, muốn có câu chuyện để kể, một đoạn video để đăng hay đơn giản là được cười cùng hàng trăm người khác về thứ mà mạng xã hội đang bàn tán. Tất nhiên, doanh thu tăng mạnh không làm cho kỹ xảo bỗng tinh xảo hơn hay những hạn chế về kịch bản tự nhiên biến mất. Điều thay đổi là cách công chúng sử dụng bộ phim. Từ một sản phẩm gần như không có khán giả, Ngưu Lai đã trở thành chất liệu cho một cuộc vui tập thể. SỰ KHÔNG HOÀN HẢO TRỞ THÀNH MỘT GIÁ TRỊ Theo lý giải của TS Quỳnh Chi (ĐH Nam Kinh, Trung Quốc), hiện tượng Ngưu Lai phần nào phản ánh sự bão hòa thị giác trong thời đại AI. Khán giả hằng ngày tiếp xúc với vô số hình ảnh được chỉnh sửa kỹ lưỡng, video được căn chỉnh mượt mà, những cảnh phim vụng về của Ngưu Lai càng trở nên không thể tưởng tượng nổi. Lúc này dấu vết của lao động thủ công, sự không hoàn hảo và cá tính con người có thể trở thành một giá trị mới. “Khán giả nhìn thấy một sản phẩm vụng về nhưng không giả vờ chuyên nghiệp, không dùng quảng cáo để nâng kỳ vọng, đạo diễn cũng công khai tiếp nhận lời chê. Vô hình trung, điều này đánh trúng tâm lý thích sự “thành thực” trong quan hệ giữa sản phẩm văn hóa và công chúng. Một bộ phim kinh phí thấp, kỹ thuật hạn chế không nhất thiết khiến khán giả cảm thấy bị đánh lừa nếu những hạn chế ấy được nhìn thấy ngay từ đầu. Ngược lại, một sản phẩm được quảng bá bằng những mỹ từ quá mức nhưng không đáp ứng kỳ vọng rất dễ tạo cảm giác thất vọng”, TS. Quỳnh Chi phân tích. TS Quỳnh Chi cho biết, tại Trung Quốc, ngay sau khi Ngưu Lai trở thành chủ đề gây chú ý trên mạng xã hội, tình hình ngoài rạp thay đổi rất nhanh. Những suất chiếu từng vắng vẻ bắt đầu được lấp đầy. “Thật buồn cười”, “xấu đến mức cá tính”, “phá vỡ tam quan”… là một số cách khán giả mô tả trải nghiệm của mình. Theo TS Quỳnh Chi, làn sóng tranh luận không phát triển theo hướng công kích gay gắt. Phần đông người xem bước vào rạp khi đã biết trước những hạn chế của tác phẩm. “Nhìn chung không ai ném đá phim, vì người ta đã nhận nó dở ngay từ đầu”. Khi lượng người xem tăng lên, cách nói về Ngưu Lai trên mạng cũng dần thay đổi. Nhiều bài review đều xem bộ phim như một trường hợp đặc biệt của “nền kinh tế tò mò”: càng bị bàn tán, càng kích thích nhu cầu tự mình kiểm chứng và tham gia vào một hiện tượng đang lan truyền. Đến đây, một vòng tuần hoàn hiếm gặp hình thành: càng bị chê, phim càng được nhắc tới; càng được nhắc tới, càng nhiều người tò mò; càng nhiều người đến rạp, câu chuyện về một bộ phim “dở không thể tin nổi” càng lan rộng.n KỸ XẢO THÔ SƠ NẾU KHÔNG MUỐN NÓI LÀ VỤNG VỀ, Ê-KÍP CHỈ CÓ NHÕN HAI NGƯỜI, CHIẾN DỊCH QUẢNG BÁ 0 ĐỒNG, NGƯU LAI BƯỚC VÀO RẠP VỚI ĐỦ LỜI CHÊ VỀ HÌNH ẢNH NGÔ NGHÊ VÀ CÁCH KỂ CHUYỆN VỤNG VỀ. THẾ NHƯNG CHÍNH CÁI DỞ KHÔNG CHE GIẤU ẤY LẠI BIẾN BỘ PHIM THÀNH HIỆN TƯỢNG, KHIẾN KHÁN GIẢ SẴN SÀNG MUA VÉ ĐỂ THỎA SỰ TÒ MÒ. Khi cái dở đánh trúng tâm lý tò mò Tạo hình “khó đỡ” của các nhân vật trong phim Ngưu Lai CHUYỆN CUỐI TUẦN Lần đầu tiên có một chuyên cơ quân sự vận chuyển mẫu thông tin di truyền được niêm phong, phủ Quốc kỳ của hàng ngàn anh hùng liệt sĩ từ các chiến trường xưa, về trung tâm giám định ADN quốc gia để tìm lại danh tính cho các anh. Sau hơn 7 ngàn sinh phẩm ấy đang là hàng trăm ngàn niềm hy vọng từ gia đình, người thân của các anh khắp mọi miền quê, sau 60 năm mong ngóng, đợi chờ. Anh Hai tôi là tiểu đội trưởng đặc công quân giải phóng năm 1969 đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông Trà Khúc, Quảng Ngãi ở tuổi 19. Người chú bên ngoại của tôi quê Phú Xuyên, Hà Tây ngày ấy vĩnh viễn nằm lại một nơi nào đó tại chiến trường miền Nam. Đợt này cả hai vẫn chưa được tìm ra mẫu sinh phẩm để về nhà. Còn bao nhiêu câu chuyện như gia đình tôi trên đất nước này. Nên mọi nấm mộ liệt sĩ, dù có tên hay còn chưa xác định danh tính, đều được những người cha người mẹ, người thân coi là con em, là ruột thịt của mình. Và một điều cũng hiếm khi xảy ra dồn dập đến vậy. Đó là rất nhiều tấm ảnh cùng kỷ vật được đưa lên từ những nấm mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính. Trong ảnh hầu hết là phụ nữ. Đó là vợ, là người yêu hay mới chỉ là người con gái ‘thương thầm nhớ trộm’ mà những người lính tuổi đôi mươi mang theo trong túi áo khi ra trận. Công nghệ phục hồi ảnh của AI giờ đây thật thần diệu, những cô gái trẻ hiện ra như vừa mới chụp hôm qua, tươi tắn, yêu đời. Những gương mặt ấy trở thành sợi dây kết nối hiện tại với gương mặt còn mơ hồ của người đã khuất. Đó chính là thứ ADN vĩnh cửu của thời gian Với công nghệ hiện đại, chúng ta đã có thể xác định vết tích của những giọt mưa đầu tiên trên hành tinh cách đây hơn 4 tỷ năm, trên dãy Jack Hills thuộc vùng hoang mạc Tây Úc. Đã tìm ra bộ hài cốt đầu tiên của loài người cách đây 3,2 triệu năm, tại miền Bắc Kenya, Đông Phi. Thiên truyện ngắn Thời gian của nhà văn Cao Duy Thảo, kể về một người mẹ già miền Trung suốt mấy chục năm trời sau hòa bình lầm lũi đi tìm đứa con trai quân giải phóng mất tích trong chiến tranh mà dư luận râm ran là anh đã “chiêu hồi địch”. Những ngày cuối đời, người mẹ đã đến được nơi cuối cùng con mình và đồng đội đụng độ với địch. Và tìm thấy chiếc áo quân phục rách bươm, bạc trắng cuộn tròn trong kẹt đá. Bên trong là chiếc đồng hồ Seiko mà bà tặng con trai lúc lên đường. “Bà mẹ đưa cả hai tay nâng chiếc đồng hồ lên, và lạ thay, khi hai bàn tay bà vừa chạm đến cái vật bé nhỏ tưởng chết lịm vĩnh viễn ấy, chiếc kim giây mảnh mai của chiếc đồng hồ bỗng vụt chạy như một cơ thể sống…”. Kết thúc mở của truyện ngắn, cho thấy sự khốc liệt không giới hạn của chiến tranh. Không gì vô thường, cũng không gì trung trinh hơn thời gian. Như sự vĩnh cửu truyền đời của những ADN thời gian – luôn trân trọng mọi giá trị của con người và lịch sử. TRÍ QUÂN ADN của thời gian (Tiếp theo trang 1) Chia sẻ với phóng viên Tiền Phong, nhà phê bình Thảo Đan cho biết, chị tò mò với Ngưu Lai nhưng sẽ thận trọng với việc lãng mạn hóa câu chuyện hai mẹ con âm thầm làm phim trong 5 năm. “Nếu từ hiện tượng Ngưu Lai đi đến kết luận rằng chỉ cần chân thành thì phim dở cũng thành công, đó là bài học rất nguy hiểm. Hàng nghìn tác phẩm kinh phí thấp được làm bằng tâm huyết vẫn biến mất mà không ai biết tới. Ngưu Lai còn cần đúng thời điểm, thuật toán mạng xã hội, tâm lý tò mò, hiệu ứng đám đông và một câu chuyện hậu trường đặc biệt. Thành công của nó có yếu tố bất thường rất lớn, khó tái tạo bằng công thức”, chị nói. HẠ ĐAN

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==