4 KINH TẾ n Thứ Sáu n Ngày 21/8/2026 SIẾT QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG, MINH BẠCH THÔNG TIN Tại tọa đàm, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng những điểm nghẽn của ngành sầu riêng hiện nay tập trung ở chất lượng sản phẩm, năng lực kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và thủ tục thông quan. Trong đó, chất lượng đang là điểm nghẽn lớn nhất. Theo ông Bình, các thị trường nhập khẩu ngày càng đưa ra nhiều tiêu chuẩn, quy định khắt khe hơn đối với nông sản, trong đó có yêu cầu về hàm lượng cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại. Chẳng hạn, vấn đề cadimi và vàng O đã được đặt ra từ cuối năm 2024 nhưng đến nay vẫn cần những hướng dẫn, giải pháp cụ thể hơn từ cơ quan chức năng, đặc biệt là về quy trình xử lý cadimi trong đất để hạn chế nguy cơ tồn dư trong sầu riêng. “Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cần sớm có hướng dẫn rõ ràng về quy trình, giải pháp xử lý vấn đề này”, ông Bình đề nghị. Từ góc độ doanh nghiệp xuất khẩu, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group, cho rằng cần nhìn nhận vấn đề chất lượng theo từng vùng, từng trường hợp cụ thể. Sầu riêng Việt Nam hiện đã xuất khẩu tới nhiều thị trường, không chỉ Trung Quốc, nên mỗi thông tin liên quan đến an toàn thực phẩm đều có thể tác động đến uy tín của cả ngành hàng. Theo ông Tùng, việc truyền thông về các rủi ro là cần thiết nhưng phải đi kèm thông tin đầy đủ về nguyên nhân, biện pháp xử lý và kết quả khắc phục. Nếu chỉ nhấn mạnh rủi ro mà không làm rõ quá trình kiểm soát, các thị trường nhập khẩu có thể hiểu rằng sầu riêng Việt Nam đang tồn tại vấn đề nhưng chưa được giải quyết. Đối với doanh nghiệp, một cảnh báo về dư lượng hoặc an toàn thực phẩm có thể kéo theo thiệt hại lớn, từ việc phải hủy hàng, phát sinh chi phí đến nguy cơ bị thị trường nhập khẩu tăng cường kiểm soát. Đặc biệt, với sầu riêng tươi, thời gian bảo quản hạn chế khiến rủi ro càng lớn. “Chỉ cần một vấn đề trong quá trình kiểm tra, logistics hay thông quan, hàng trăm container có thể phải quay đầu, không thể tiêu thụ do đặc thù sầu riêng cần thời gian chín”, ông Nguyễn Đình Tùng nói. Từ thực tế này, ông cho rằng, ngành hàng cần tăng đầu tư vào công nghệ chế biến, nhất là công nghệ cấp đông. Đây có thể trở thành một “van an toàn”, giúp doanh nghiệp giảm áp lực khi phát sinh sự cố trong kiểm nghiệm hoặc thông quan, đồng thời mở rộng khả năng đưa sản phẩm sầu riêng tới các thị trường xa như châu Âu, Mỹ. Theo ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp nhiệt đới, chất lượng không chỉ là vấn đề của riêng sầu riêng mà là yêu cầu cốt lõi đối với toàn ngành rau quả. Điều đáng quan tâm là khi xảy ra sự cố chất lượng, cần xác định rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm chính, cơ quan nào xử lý và thời gian xử lý ra sao. Hiện, nhiều nội dung liên quan đến chất lượng được phân công cho các đơn vị khác nhau trong Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhưng điều quan trọng là phải có một đầu mối nắm được bức tranh tổng thể và xây dựng kế hoạch giảm rủi ro. “Chúng ta phải đánh giá được mức độ, phải có số liệu cụ thể, có kế hoạch và có lộ trình”, ông Mười nói. Theo ông, cần xác định rõ chất lượng nông sản, rau quả của Việt Nam hiện ở mức nào, những vấn đề nào cần khắc phục và đến thời điểm nào có thể cơ bản bảo đảm yêu cầu. Việc phân công phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm để khi phát sinh vấn đề có thể xử lý nhanh chóng. MINH BẠCH KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho rằng ngành sầu riêng cần tiếp tục nâng mức ưu tiên kiểm soát chất lượng, đồng thời nghiên cứu, phát triển các giống sầu riêng mới có chất lượng tốt hơn. Trong đó, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sinh vật gây hại, quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói cần được thực hiện chặt chẽ hơn. Liên quan năng lực kiểm nghiệm, ông Phạm Văn Duy, Phó Cục trưởng Cục Chế biến, chất lượng và Phát triển thị trường, cho biết hệ thống phòng kiểm nghiệm hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu kiểm nghiệm sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc, kể cả trong giai đoạn cao điểm. Theo ông Duy, so với cùng kỳ năm ngoái, năng lực kiểm nghiệm hiện đã tăng khoảng 3 lần. Vấn đề còn lại là tổ chức điều phối, kiểm soát quy trình và bảo đảm tính minh bạch của kết quả kiểm nghiệm. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hướng tới kiểm soát toàn bộ quy trình, từ lấy mẫu đến phát hành kết quả, thay vì chỉ kiểm tra phiếu kết quả. Các giải pháp gồm chuẩn hóa quy trình lấy mẫu, ứng dụng công nghệ số trong quản lý mẫu và kết quả, tăng cường hậu kiểm và xử lý vi phạm. QUY HOẠCH VÙNG NGUYÊN LIỆU ĐẠT CHUẨN Bên cạnh chất lượng, quản lý vùng trồng và kiểm soát tốc độ mở rộng diện tích được nhiều chuyên gia xác định là điều kiện quan trọng để ngành sầu riêng phát triển bền vững. Ông Nguyễn Thế Tùng, Tổng Giám đốc Queen Farm, cho rằng người nông dân và vùng trồng phải được đặt ở vị trí trung tâm trong chuỗi giá trị sầu riêng. Nếu vùng trồng không ổn định, nông dân thiếu định hướng và hỗ trợ, các giải pháp ở khâu thu mua, chế biến hay xuất khẩu khó phát huy hiệu quả. Theo ông Tùng, cần kiểm soát từ cây giống, vật tư nông nghiệp đến quy trình canh tác tại thực địa. Mô hình “Ba khoa học”, gồm khoa học canh tác, khoa học quản lý và khoa học công nghệ ứng dụng, cần được chuyển giao rộng rãi tại các vùng trồng. Người dân cần được hướng dẫn về thổ nhưỡng, cải tạo đất và kỹ thuật chăm sóc; sản xuất cần được tổ chức đồng bộ để kiểm soát chất lượng, trong khi công nghệ hỗ trợ quản lý tưới tiêu, sâu bệnh và dữ liệu vùng trồng. Theo quan điểm của ông Nguyễn Trí Ngọc, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt, Phó Chủ tịch thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, từ bài học của ngành cà phê, cần nhìn lại công tác quy hoạch đối với sầu riêng. Nếu quy hoạch không đi kèm cơ chế quản lý và chế tài khả thi thì rất khó kiểm soát việc mở rộng diện tích. Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp cũng tạo điều kiện để quản lý sát hơn vùng trồng, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và trực tiếp hướng dẫn các hộ nông dân. “Tôi muốn nhấn mạnh yếu tố minh bạch, bởi những câu chuyện xảy ra vừa rồi cho thấy thiếu minh bạch mới dẫn đến những xáo trộn và làm khổ cả ngành. Vì vậy, một lần nữa, tôi cho rằng dứt khoát phải điều chỉnh quy hoạch trồng sầu riêng”, ông Ngọc nói. Tại Đắk Lắk, địa phương đang triển khai chiến dịch 30 ngày đêm, nhằm số hóa mã số vùng trồng và định danh các khu vực sản xuất. Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk, cho biết mục tiêu là nâng cao trách nhiệm của nông dân trong ghi chép nhật ký canh tác, tuân thủ quy trình sản xuất và hạn chế rủi ro về kiểm dịch thực vật, vi phạm quy định của thị trường nhập khẩu. Địa phương cũng dự kiến xây dựng bản đồ nông hóa thổ Tại Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng: Kiến tạo xuất khẩu bền vững” do báo Tiền Phong tổ chức sáng 20/8, các chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cho rằng, chất lượng, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và quản lý vùng trồng đang là những vấn đề cần ưu tiên tháo gỡ để ngành sầu riêng phát triển ổn định, tránh tình trạng tăng trưởng nóng nhưng thiếu bền vững. Nâng tầm thương hiệu Các đại biểu dự tọa đàm tìm giải pháp gỡ điểm nghẽn cho ngành sầu riêng PHÁT TRIỂN SẦU RIÊNG BỀN VỮNG: Việt Nam được cấp 567 mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) cho biết, trong thời điểm đang vào chính vụ sầu riêng, Việt Nam vừa nhận được thông tin tích cực từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC). Theo đó, phía GACC mới đây đã thông báo cấp 567 mã số cơ sở đóng gói và mã số vùng trồng cho Việt Nam. Trong số này có 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã thông báo tới các địa phương để doanh nghiệp, người dân và các đơn vị liên quan nắm rõ, chủ động chuẩn bị các điều kiện phục vụ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. 50 phòng kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn Tính đến ngày 5/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) đã chấp thuận 50 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam đủ tiêu chuẩn phân tích các chỉ tiêu như Cadimi và vàng O. Tổng công suất đạt khoảng 10.00013.000 mẫu/ngày. Đến ngày 14/8, thêm hai phòng kiểm nghiệm được chấp thuận. Riêng khu vực Tây Nguyên hiện có 7 phòng kiểm nghiệm, năng lực xử lý hơn 1.000 mẫu/ngày. Trong khi đó, các phòng kiểm nghiệm tại TPHCM, Cần Thơ, Cà Mau và các địa phương lân cận có công suất khoảng 10.000 mẫu/ngày; các phòng kiểm nghiệm dọc tuyến vận chuyển từ vùng trồng tới cửa khẩu như Đà Nẵng, Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Lạng Sơn có công suất hơn 2.000 mẫu/ngày. Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT)
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==