Diện tích sầu riêng được trồng trong những năm 2021-2023 tại Tây Nguyên và Đông Nam bộ sẽ bước vào thời kỳ cho năng suất tối đa, đưa tổng sản lượng sầu riêng Việt Nam vượt mốc 2,2-2,5 triệu tấn mỗi năm. Thời gian tới, việc truy xuất nguồn gốc sẽ được số hóa 100%. Các yêu cầu về kiểm soát Cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và chứng nhận GlobalGAP sẽ trở thành điều kiện bắt buộc để duy trì mã số xuất khẩu. Ngoài Trung Quốc, các sản phẩm sầu riêng đông lạnh và chế biến sẽ tiếp tục mở rộng thị phần tại Ấn Độ, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Đông. Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Việt Nam có lợi thế chiến lược độc nhất là khả năng thu hoạch rải vụ quanh năm và vị trí địa lý liền kề thị trường Trung Quốc, qua đó giúp tối ưu hóa chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, để duy trì và nâng cao vị thế, ngành sầu riêng Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị của toàn bộ chuỗi. “Nếu kiểm soát tốt bài toán an toàn thực phẩm và chuẩn hóa mã số vùng trồng, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam hoàn toàn có thể ổn định ở mức 4,5-5 tỷ USD mỗi năm, chính thức đưa Việt Nam cạnh tranh ngang ngửa vị trí quốc gia xuất khẩu sầu riêng số một thế giới. Ngược lại, nếu buông lỏng kiểm định chất lượng, nguy cơ mất thị phần vào tay các đối thủ sẽ diễn ra rất nhanh”, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam nói. P. THIÊN nhưỡng và bản đồ dinh dưỡng riêng cho ngành sầu riêng. Các dữ liệu này được kỳ vọng trở thành công cụ quản lý, cập nhật thường xuyên để cơ quan chức năng theo dõi vùng trồng và hỗ trợ người dân tối ưu năng suất, chất lượng. Ông Lê Ngọc Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk nêu quan điểm: mục tiêu đưa sầu riêng trở thành ngành hàng tỷ USD trong 3-5 năm tới phải bắt đầu từ vùng trồng. Các vùng sản xuất cần được chuẩn hóa, nông dân được tập huấn về quy trình canh tác, điều kiện môi trường và thổ nhưỡng. Cùng với đó, doanh nghiệp xuất khẩu cần nâng cấp hệ thống kho bãi, đầu tư công nghệ chế biến sâu để đa dạng hóa sản phẩm thay vì phụ thuộc quá lớn vào xuất khẩu quả tươi. Liên quan đến việc cấp mã số vùng trồng cho các diện tích nhỏ lẻ, ông Nguyễn Quốc Mạnh cho rằng, về nguyên tắc, người dân có nhu cầu và đáp ứng đủ điều kiện thì cơ quan quản lý phải thực hiện cấp mã số, không phân biệt diện tích lớn hay nhỏ, phục vụ cả xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Tuy nhiên, nếu cấp mã số riêng cho từng diện tích nhỏ sẽ làm tăng áp lực về nhân lực kiểm tra, xác minh và chi phí quản lý. Vì vậy, Nghị quyết 36 khuyến khích các hộ dân liên kết với nhau để hình thành vùng trồng quy mô lớn và sử dụng chung một mã số. Theo ông Mạnh, đây là chính sách khuyến khích chứ không phải quy định bắt buộc. Mục tiêu là tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chất lượng, an toàn sản phẩm. Từ những vấn đề được đặt ra tại tọa đàm, các đại biểu thống nhất: bài toán của ngành sầu riêng hiện nay không còn đơn thuần là mở rộng thị trường hay tăng sản lượng. Khi đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành rau quả, yêu cầu đặt ra là kiểm soát chặt chất lượng ngay từ vùng trồng, hạn chế phát triển diện tích tự phát, minh bạch dữ liệu và nâng cao năng lực kiểm nghiệm, chế biến. Một ngành hàng tỷ USD chỉ có thể duy trì tăng trưởng khi vùng trồng được quản lý, chất lượng được kiểm soát và doanh nghiệp, nông dân cùng tham gia vào một chuỗi sản xuất minh bạch, đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. NHÓM PV BAN KINH TẾ 5 n Thứ Sáu n Ngày 21/8/2026 KINH TẾ Ông Vũ Duy Hải, Tổng Giám đốc Vinacam cho biết, trước khi xuất hiện những cảnh báo mạnh từ năm 2022, việc kiểm soát Cadimi chưa được chú trọng đúng mức, trong khi thông tin và xét nghiệm đối với phân bón lưu thông trên thị trường còn hạn chế. Theo ông Hải, Cadimi có thể hiện diện trong phân bón chứa lân, đặc biệt trong điều kiện đất chua phèn. Ông cho rằng cần kiểm soát ngay từ nguồn vật tư đầu vào. Ngày 1/6/2026, Vinacam đề xuất giảm giới hạn Cadimi trong phân DAP và phân lân từ tối đa 12 ppm xuống khoảng 5-6 ppm; phân hữu cơ xuống 2-3 ppm; đồng thời bổ sung quy định kiểm soát Cadimi đối với NPK và các loại phân có chứa lân. Vinacam cũng đề xuất khuyến khích sản xuất, nhập khẩu các dòng DAP có hàm lượng Cadimi thấp, kết hợp các chất cải tạo đất và vi lượng nhằm hạn chế nguy cơ cây hấp thụ Cadimi. Một vấn đề khác được doanh nghiệp quan tâm là việc sử dụng vàng O trong xử lý sau thu hoạch. Theo phản ánh, vàng O được một bộ phận người dân sử dụng trong xử lý sau thu hoạch nhằm kéo dài bảo quản, tạo màu vàng đẹp và giúp sầu riêng chín đều. Tuy nhiên, khi chất này bị cảnh báo về nguy cơ gây hại, việc thiếu sản phẩm thay thế an toàn có thể khiến người dân tự tìm giải pháp khác, tiềm ẩn rủi ro. Do đó, doanh nghiệp kiến nghị cơ quan chuyên môn nhanh chóng nghiên cứu, công nhận và phổ biến các chế phẩm sinh học hoặc hóa học an toàn có thể thay thế vàng O. Đồng thời, cơ quan quản lý cần chủ động chuẩn bị trước nguy cơ các thị trường nhập khẩu tiếp tục siết dư lượng Clo, Asen và những chất nguy hại khác. TUÂN THỦ SPS ĐỂ GIẢM RỦI RO XUẤT KHẨU Ở góc độ quản lý, ông Đinh Đức Hiệp, đại diện Văn phòng SPS Việt Nam cho biết, giá trị xuất khẩu sầu riêng đang rất lớn, vì vậy doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến việc tuân thủ các quy định về SPS của thị trường nhập khẩu. Theo ông Hiệp, khi xuất khẩu bất kỳ mặt hàng nào, doanh nghiệp đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp SPS, bao gồm những quy định liên quan đến kiểm dịch động thực vật, an toàn thực phẩm và các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu. Hiện ngoài Trung Quốc, ngành sầu riêng đang hướng tới mở rộng sang nhiều thị trường khác như châu Âu, Nhật Bản, Mỹ. Tuy nhiên, mỗi thị trường có những quy định riêng, vì vậy doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ yêu cầu của từng nước và chủ động đáp ứng ngay từ quá trình sản xuất. Đối với thị trường Trung Quốc, ngoài yêu cầu kiểm soát 6 đối tượng kiểm dịch thực vật theo quy định, sầu riêng xuất khẩu còn phải đáp ứng những điều kiện liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Theo ông Hiệp, việc xuất khẩu bằng đường biển mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp, nhất là khi vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn. Tuy nhiên, trước khi đưa hàng lên tàu, doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ tình trạng của mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói… NHÓM PV BAN KINH TẾ Bên cạnh các yêu cầu về kiểm soát dư lượng trong quá trình sản xuất, xuất khẩu sầu riêng, vấn đề kiểm soát Cadimi (một kim loại nặng có độc tính cao) trong phân bón và nông sản cũng đang được doanh nghiệp đặt ra như một yêu cầu cấp thiết, nhằm hạn chế rủi ro từ sớm. Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam đánh giá, trong giai đoạn 3-4 năm tới (từ 2027-2030), ngành sầu riêng Việt Nam sẽ bước qua thời kỳ “tăng trưởng nóng về sản lượng” để chuyển sang giai đoạn sàng lọc chất lượng, định hình lại cấu trúc thị trường và cạnh tranh về chuỗi giá trị. Chế biến sầu riêng Thu hoạch sầu riêng ở Tây Nguyên Sớm ban hành tiêu chuẩn về Cadimi trong phân bón Lời giải để sầu riêng Việt tiến tới ngôi vị số một thế giới Thời gian tới, Văn phòng SPS Việt Nam định hướng nâng cấp cổng thông tin điện tử, hướng tới xây dựng hệ thống có khả năng tự động gửi thông báo về những thay đổi trong quy định của thị trường đến doanh nghiệp và từng ngành hàng cụ thể. Qua đó, doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin nhanh hơn, chủ động đáp ứng yêu cầu của thị trường và hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==