Báo Tiền Phong số 233

BA GIẢI PHÁP CỐT LÕI Bộ khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường để hoàn thiện hồ sơ trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, vào tháng 10. Tại Hội nghị truyền thông chính sách ngày 19/8, ông Trần Quý Giầu - Trưởng ban Ban Đo lường, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cho biết, sau gần 15 năm thi hành, Luật Đo lường năm 2011 đã bộc lộ ba nhóm bất cập chính. Thứ nhất là thiếu nền tảng và cơ sở dữ liệu thống nhất, liên thông, chưa quy định đầy đủ về giá trị pháp lý của kết quả điện tử, quản lý dựa trên dữ liệu và các yêu cầu về chính xác, toàn vẹn, xác thực, truy xuất, an toàn, bảo mật dữ liệu. Thứ hai là chưa có cơ chế ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực công nghệ mới, kinh tế số, kinh tế xanh, công nghiệp chiến lược, việc huy động nguồn lực xã hội và triển khai Chương trình bảo đảm đo lường còn hạn chế. Thứ ba là thẩm quyền quản lý phép đo giữa các bộ, ngành chưa rõ, chưa tách bạch đầy đủ hoạt động tự nguyện và bắt buộc, cơ chế còn nặng về tiền kiểm. Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, để giải quyết triệt để các bất cập này, dự thảo Luật tập trung vào 3 giải pháp trọng tâm. Đầu tiên là đẩy mạnh sang hậu kiểm, giảm chi phí tuân thủ. Trong đó với phương tiện đo Nhóm 1 (phục vụ sản xuất nội bộ), doanh nghiệp chuyển sang cơ chế tự công bố sự phù hợp và tự chịu trách nhiệm, được hoàn toàn chủ động lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ hợp pháp. Đối với hàng đóng gói sẵn, sẽ bãi bỏ giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng dấu định lượng. Quản lý nhà nước sẽ tập trung vào kiểm tra quy chuẩn kỹ thuật theo cơ chế hậu kiểm. Đối với phương tiện đo Nhóm 2 (ảnh hưởng trực tiếp người tiêu dùng như công tơ điện, nước, cột bơm xăng…), sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ qua cơ chế chỉ định, nhưng giao thẩm quyền kiểm tra tại các chợ, điểm kinh doanh dân sinh cho UBND cấp xã để sát thực tế hơn. Giải pháp thứ hai là số hóa toàn diện và minh bạch hóa dữ liệu, thông qua định danh mỗi phương tiện đo bằng một mã số duy nhất để truy xuất toàn bộ vòng đời hoạt động. Lần đầu tiên, kết quả kiểm định bằng Chứng chỉ số (DCC) và chữ ký số được công nhận giá trị pháp lý tương đương văn bản giấy. Thứ ba là huy động nguồn lực tư nhân vào hạ tầng quốc gia, cho phép các chuẩn đo lường do doanh nghiệp tư nhân đầu tư - nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn - sẽ được xem xét công nhận là Chuẩn đo lường quốc gia. HOÀN THIỆN NỀN TẢNG SỐ QUỐC GIA VỀ TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG Cùng với việc hoàn thiện thể chế, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đang hoàn thiện cơ sở dữ liệu và nền tảng số quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Hệ thống được triển khai theo mô hình thống nhất, trong đó các địa phương được phân quyền để phục vụ công tác quản lý trên địa bàn. Đến nay, 34 địa phương đã sử dụng hệ thống. Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, trong quá trình vận hành, cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng tiếp tục được cập nhật và hoàn thiện. Việc bổ sung dữ liệu, công cụ tìm kiếm và các chức năng liên quan hướng tới đáp ứng tốt hơn nhu cầu khai thác thông tin của người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Qua đó, số hóa tiêu chuẩn, quy chuẩn không chỉ tạo một kênh tra cứu tập trung mà còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc xác định yêu cầu kỹ thuật, cập nhật quy định và thực hiện các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. TUỆ MINH 10 n Thứ Sáu n Ngày 21/8/2026 Đẩy mạnh số hóa ngành tiêu chuẩn, đo lường Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường đề xuất hiện đại hóa hạ tầng đo lường quốc gia theo hướng số hóa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đổi mới phương thức kiểm tra nhà nước, tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nền tảng số quốc gia về tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã được 34 địa phương sử dụng (Ảnh minh họa) Mô hình robot thông minh hình dáng giống người hỗ trợ dạy tiếng Anh đã được áp dụng khá phổ biến các nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sĩ… nhưng còn hạn chế tại Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn trên, TS Lê Đình Sơn cùng nhóm nghiên cứu tại Học viện Kỹ thuật Quân sự đã thực hiện “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo robot thông minh hình dáng giống người hỗ trợ dạy tiếng Anh trong trường tiểu học”. Nghiên cứu thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2019 - 2025 “Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0”. Đề tài đặt mục tiêu làm chủ thiết kế, chế tạo, điều khiển robot thông minh hình dáng giống người trên cơ sở tích hợp các công nghệ tiên tiến như hệ điều hành robot (ROS), cơ điện tử, trí tuệ nhân tạo, hệ thống thông tin. Trên cơ sở đó, thiết kế, chế tạo thành công một robot thông minh hình dáng giống người, hỗ trợ dạy tiếng Anh cấp tiểu học. Đề tài cũng đặt mục tiêu thử nghiệm hỗ trợ dạy học tại 2 trường tiểu học, đồng thời định hướng, tạo nền tảng về công nghệ và kỹ thuật để phát triển các loại sản phẩm robot thông minh ở các ứng dụng khác nhau. Kết quả, đề tài đã thiết kế, chế tạo thành công một robot có ngoại hình giống một cậu bé, cao khoảng 127 cm, khối lượng 39,6 kg. Robot bao gồm phần thân trên giống người và phần thân dưới là một mô-đun di động, đảm bảo khả năng di chuyển, thực hiện các thao tác giống con người. Thiết kế đã tích hợp đầy đủ phần cứng của hệ thống điện, điều khiển, hệ thống cảm biến, truyền thông. Các mô-đun phần mềm điều khiển chuyển động được phát triển chủ yếu trên ROS framework cho phép khả năng tích hợp và quản lý khá linh hoạt mọi nguồn tài nguyên cũng như sự điều chỉnh của các khối chức năng. Robot có khả năng tương tác với con người thông qua các mô-đun xử lý thông minh (nhận dạng khuôn mặt, giọng nói và cử chỉ), cho phép phân tích, dự đoán và thực hiện các hành động thân thiện phù hợp với bối cảnh. Theo các chuyên gia, đây là một trong những robot hình người thông minh được phát triển tại Việt Nam và sẽ được tiếp tục hoàn thiện để cải thiện các tính năng hiện có. NGUYỄN HOÀI Các nhà khoa học của Học viện Kỹ thuật Quân sự đã thực hiện thành công “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo robot thông minh hình dáng giống người hỗ trợ dạy tiếng Anh trong trường tiểu học”. Thiết kế, chế tạo robot thông minh hỗ trợ dạy tiếng Anh Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Bộ Khoa học và Công nghệ, dự án Luật hướng tới mục tiêu xây dựng khuôn khổ pháp lý hiện đại, minh bạch, ổn định, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, vừa tạo động lực phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Robot thông minh hỗ trợ dạy tiếng Anh trong trường tiểu học của Học viện Kỹ thuật Quân sự Lâm Đồng kết nối hơn 2,6 triệu lượt giao dịch dữ liệu Theo Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng, tính đến tháng 8, Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của tỉnh Lâm Đồng (LGSP) đã kết nối 22 hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành Trung ương với số lượt giao dịch vượt 2,6 triệu lượt. Dữ liệu cũng từng bước được địa phương đưa vào hoạt động chỉ đạo, điều hành. Hệ thống quản lý văn bản và điều hành được triển khai thống nhất tại 168 đơn vị cấp tỉnh, cấp xã với hơn 28.000 tài khoản, khoảng 93% văn bản đi được ký số. Cổng thông tin điện tử tỉnh kết nối với 16 sở, ban, ngành và 124 xã, phường, đặc khu. Hà Nội thí điểm mô hình tiêu dùng số gắn với truy xuất nguồn gốc Theo Quyết định số 3732/QĐ-UBND thành phố Hà Nội về Đề án “Thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử TP. Hà Nội”, đến năm 2028, Hà Nội phấn đấu có 500 chủ thể tham gia hoặc kết nối mô hình, 1.000 sản phẩm được công khai trên gian hàng số hoặc các chuyên mục liên kết. Trong đó, tối thiểu 80% sản phẩm phải có truy xuất nguồn gốc hoặc mã định danh phù hợp, 100% chủ thể được hướng dẫn công khai các thông tin bắt buộc. Mục tiêu này cho thấy truy xuất nguồn gốc đang được đặt trong tổng thể xây dựng môi trường tiêu dùng số, thay vì chỉ được xem là một giải pháp kỹ thuật trên bao bì. Hoàn thiện hệ thống dữ liệu quốc gia Theo Trung tâm Dữ liệu quốc gia, thời gian qua, Trung tâm đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tập trung xây dựng, chuẩn hóa, kết nối và đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành. Đến nay, đã có 73 cơ sở dữ liệu được kết nối, với khoảng 450 triệu bản ghi và 7.300 thuộc tính dữ liệu. Trên cơ sở dữ liệu đã kết nối, Trung tâm đã phối hợp rà soát từng thủ tục hành chính, xác định những giấy tờ, thành phần hồ sơ có thể thay thế bằng dữ liệu, qua đó từng bước hiện thực hóa nguyên tắc “dữ liệu thay giấy tờ”, “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, giảm thời gian, chi phí cho người dân, doanh nghiệp. TUỆ MINH

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==