Báo Tiền Phong số 230

13 TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG n Thứ Ba n Ngày 18/8/2026 C uộc gặp của Thủ tướng Lê Minh Hưng với Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại tuần qua, cùng yêu cầu giảm thực chất lãi suất cho vay, cần được nhìn rộng hơn một chỉ đạo hạ lãi suất. Đó là câu chuyện về giá của đồng vốn và sức bật của nền kinh tế. Tiền cũng có giá. Lãi suất chính là giá của đồng tiền. Khi tiền đắt, doanh nghiệp phải cân nhắc từng quyết định đầu tư. Một dự án hiệu quả ở mức lãi suất 7% có thể không còn hấp dẫn khi chi phí vốn lên 10%. Kế hoạch mở rộng sản xuất bị trì hoãn, doanh nghiệp khó lớn lên, sức mua cũng chịu tác động. Trong khi đó, muốn tăng trưởng cao phải có đầu tư, sản xuất và tiêu dùng. Mà tất cả đều cần vốn. Vì vậy, giảm giá vốn không phải câu chuyện của riêng người đi vay. Đó là một phần của bài toán tăng trưởng. Điều đáng nói, nền kinh tế không hẳn thiếu tiền. Tiền gửi vẫn chảy vào ngân hàng, thanh khoản được điều hành linh hoạt. Nhưng có tiền và có vốn phù hợp là hai chuyện khác nhau. Doanh nghiệp cần vốn với mức lãi suất có thể chịu được, trong khi ngân hàng phải tính chi phí huy động, vận hành, dự phòng rủi ro và nợ xấu vào giá cho vay. Muốn lãi suất giảm bền vững, ngân hàng phải giảm chi phí, nâng năng suất, ứng dụng công nghệ và quản trị rủi ro tốt hơn. Và ngân hàng cần chia sẻ. Ngân hàng là doanh nghiệp, cần lợi nhuận và an toàn. Nhưng ngân hàng cũng không thể đứng ngoài chu kỳ tăng trưởng của nền kinh tế. Doanh nghiệp làm ăn tốt sẽ trở thành khách hàng tốt; doanh nghiệp mở rộng sẽ tạo thêm nhu cầu tín dụng. Chia sẻ với nền kinh tế cũng là bảo vệ lợi ích dài hạn của chính ngân hàng. Sự chia sẻ trước hết phải ở lãi suất: khi chi phí huy động có dư địa giảm, cần chuyển một phần lợi ích đó vào giá vốn cho vay. Nhưng còn là thủ tục nhanh hơn, điều kiện vay hợp lý hơn, đánh giá tín dụng sát hơn với dòng tiền và phương án kinh doanh. Một khoản vay lãi suất thấp nhưng doanh nghiệp phải chờ quá lâu mới được giải ngân thì chưa thể gọi là vốn rẻ. Ở phía điều hành, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục điều tiết thanh khoản linh hoạt, tạo điều kiện để các ngân hàng có nguồn vốn với chi phí hợp lý, đồng thời theo dõi sát diễn biến lãi suất huy động và cho vay. Quan trọng hơn, việc giảm lãi suất cần đi cùng kiểm tra dòng vốn: vốn có thực sự đến doanh nghiệp sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng hay không. Các ngân hàng thương mại cũng cần biến yêu cầu này thành những hành động cụ thể: rà soát danh mục cho vay, giảm chi phí vận hành, chủ động cơ cấu lại các khoản vay phù hợp và công khai hơn các chương trình tín dụng với lãi suất thực chất. Tiền rẻ, tuy nhiên, không có nghĩa tiền dễ dãi. Vốn phải đi vào những nơi tạo ra giá trị. Một đồng vốn vào nhà máy, công nghệ, xuất khẩu khác hoàn toàn một đồng vốn chạy vào đầu cơ tài sản. Tín dụng tăng chưa chắc tạo ra tăng trưởng tốt. Quan trọng là tín dụng tăng ở đâu, vào ai và tạo thêm giá trị gì. Bởi vậy, yêu cầu giảm lãi suất đi cùng yêu cầu đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, đúng đối tượng, đúng mục đích là một logic điều hành hoàn chỉnh. Cuối cùng, đừng chỉ nhìn lãi suất niêm yết giảm bao nhiêu. Hãy nhìn vào doanh nghiệp: họ có vay rẻ hơn không, tiếp cận vốn nhanh hơn không, có dám đầu tư thêm không, có tạo thêm việc làm và sản phẩm không? Nếu có, tiền rẻ đã thực sự đi vào nền kinh tế. Tiền rẻ không phải mục tiêu cuối cùng. Tăng trưởng mới là mục tiêu. Và khi nền kinh tế cần tăng tốc, những người nắm giữ dòng vốn cũng phải chia sẻ chi phí của cuộc tăng tốc ấy. KHÁNH MINH Tiền rẻ không chỉ là mệnh lệnh GÓC NHÌN TÀI CHÍNH TÍN DỤNG PHẢI ĐẾN ĐÚNG ĐỊA CHỈ, LÃI SUẤT PHẢI GIẢM Theo định hướng mới, hệ thống tiền tệ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng được xác định là “huyết mạch” của nền kinh tế. Vì vậy, ưu tiên hàng đầu của chính sách tiền tệ là củng cố ổn định vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống và khơi thông, phân bổ hiệu quả nguồn vốn để phục vụ mục tiêu tăng trưởng bền vững hai con số. Giai đoạn 2026-2030, ngành ngân hàng được yêu cầu không chỉ mở rộng quy mô mà phải an toàn hơn, hiệu quả hơn và hiện đại hơn. Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng kiểm soát rủi ro; chuyển đổi số phải gắn với an toàn dữ liệu; hội nhập quốc tế phải đi đôi với nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế. Một trong những yêu cầu trực tiếp nhất là ổn định mặt bằng lãi suất và giảm lãi suất cho vay. Thủ tướng yêu cầu NHNN tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt lãi suất, tăng cường cung ứng thanh khoản để các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý. Các ngân hàng phải tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay; trường hợp không chấp hành chỉ đạo của NHNN phải có biện pháp xử lý theo thẩm quyền. Với tín dụng, cách tiếp cận được nhấn mạnh là linh hoạt hơn. Tăng trưởng tín dụng phải bám sát mục tiêu nhưng không coi chỉ tiêu này là một “trần cứng” trong mọi thời điểm. Việc điều hành phải căn cứ diễn biến thực tế, bảo đảm vốn đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích và với chi phí hợp lý. Các lĩnh vực được ưu tiên gồm sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, hạ tầng thiết yếu, dự án BT và các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng. Đồng thời, NHNN phải tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể, trong khi kiểm soát chặt dòng vốn vào những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. SIẾT NGÂN HÀNG YẾU, CẢNH BÁO RỦI RO TỪ SỚM Song song với mục tiêu tăng trưởng tín dụng, yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng. Chính phủ yêu cầu khẩn trương hoàn thiện Đề án tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém và tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, hoàn thành trong tháng 8/2026. NHNN phải tăng cường giám sát, kiểm soát các tổ chức tín dụng yếu kém đang được kiểm soát đặc biệt, xử lý dứt điểm các ngân hàng yếu kém. Công tác xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng SCB cũng được yêu cầu đẩy nhanh, với sự phối hợp của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Đáng chú ý, yêu cầu thanh tra, giám sát được chuyển mạnh sang hướng cảnh báo sớm, giám sát từ sớm, từ xa, từ trước khi phát sinh hậu quả. NHNN phải chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng để nhận diện, cảnh báo và có phương án xử lý các rủi ro, sai phạm, đặc biệt trong sở hữu, cấp tín dụng, quản lý vốn vay và việc tuân thủ các giới hạn an toàn. Các tổ chức tín dụng cũng được yêu cầu nâng cao năng lực quản trị, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, năng lực tài chính và kỷ luật hoạt động; kiểm soát chặt giao dịch với cổ đông và người có liên quan, tuân thủ các giới hạn an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng. Một trụ cột khác là chuyển đổi số. Ngành ngân hàng được yêu cầu tiếp tục ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để nâng cao năng lực quản trị, sức cạnh tranh và an ninh, an toàn trong thanh toán, ngân hàng. Đặc biệt, quá trình số hóa phải gắn với bảo vệ dữ liệu và quyền lợi khách hàng. Cùng với đó, Chính phủ yêu cầu đổi mới mạnh công tác truyền thông chính sách, theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, kịp thời và chính xác. NHNN, Hiệp hội Ngân hàng và các ngân hàng thương mại được yêu cầu truyền thông rõ quyết tâm ổn định mặt bằng lãi suất, tiết giảm chi phí và giảm lãi suất cho vay, qua đó củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và thị trường. CAO LÂM CHỈ ĐẠO CỦA THỦ TƯỚNG: Giảm lãi suất, siết an toàn hệ thống Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 428/TBVPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8. Thông điệp xuyên suốt là ngành ngân hàng phải vừa tạo thêm động lực tăng trưởng, vừa giữ vững an toàn hệ thống, kiểm soát lạm phát và nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động mới. Hệ thống tiền tệ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng được xác định là “huyết mạch” của nền kinh tế ẢNH: NHƯ Ý Điểm đáng chú ý là yêu cầu khơi thông vốn không đặt riêng lên vai hệ thống ngân hàng. NHNN được yêu cầu phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong điều hành tiền gửi Kho bạc Nhà nước, qua đó hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế. Bộ Tài chính đồng thời phải phát triển thị trường vốn, chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp, nhằm khơi thông nguồn vốn trung và dài hạn, giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==