Chiều mưa tháng Tám, Sài Gòn ẩm ướt như vừa khóc. Hà đứng trong một gian hàng đồ cũ đồ xưa trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, nước mưa vẫn nhỏ giọt từ mép mái xuống vỉa hè. Trước đó, vô tình ghé vào xin trú mưa nhưng sau thì cô bị cuốn hút bởi sự phong phú và kỳ lạ của những món đồ được để khá tùy hứng trong căn nhà. Vả lại, cũng muốn mua một món đồ gì đó, coi như lời cảm ơn. Bỗng cô nhìn thấy bên cạnh chồng băng đĩa cũ là một hộp ảnh đen trắng, những tấm ảnh nhiều kích cỡ, giấy đã ố vàng, góc cong, có tấm còn dính vết keo cũ, có cả những dòng chữ ghi năm tháng. Ồ, có người bán cả hình cũ ư? Có đấy, những tấm hình lạc trong những tủ sách, có khi còn nguyên một album, tay bà chủ hàng hoa lên chỉ chỉ vào các góc nhà. Hà thờ ơ lật lật từng tấm, cho đến khi sững lại. Năm cô gái trước cổng trường Đại học Tổng hợp. Tóc mái bằng, áo sơ mi trắng, quần jean ống loe. Họ đều cười. Phía sau là hàng cây xanh mờ trong ánh nắng. Hà nhận ra mình đứng giữa, vai kề vai với Hương. Bên phải là Mai, miệng cười hết cỡ. Bên lề trái là Thảo, tay còn cầm quyển sách. Và cuối cùng, đứng hơi lệch ra ngoài một chút bên phải, là Kim. Hà nhìn rất lâu, thất thần. Bà chủ hàng hỏi: “Chị quen mấy người trong hình hông? Nhiều khi có cả bộ luôn đó, mà phải tìm” “Chỉ có tấm này thôi…” Hà nói như bị hụt hơi. “Lấy tấm này hả? Hai mươi ngàn thôi”. Hà không mặc cả. Chỉ gật đầu, móc tiền đưa. Về đến nhà, trời đã tối hẳn. Hà đặt tấm ảnh dưới ánh đèn bàn, ngồi im. Căn phòng nhỏ trên lầu hai con hẻm im ắng. Ngoài kia tiếng xe máy chạy qua, tiếng ai đó gọi nhau ăn cơm. Hà nghĩ đến chữ “lưu lạc”. Tấm ảnh này đã đi đâu suốt gần bốn mươi năm? Từ tay ai sang tay ai? Nó nằm trong ngăn kéo nào, trong thùng carton nào, trên kệ sách nào trước khi xuất hiện ở sạp ảnh cũ ấy? Hình ảnh cũng biết lưu lạc. Nó trôi. Còn những buổi chiều dưới gốc me trước thư viện, những lần ít ỏi có tiền, năm đứa ngồi ăn hủ tiếu ở góc chợ Bến Thành, buổi tối ký túc Kim gảy mấy nốt trên cây đàn guitar cũ… những thứ ấy cũng đã lưu lạc hết rồi. Nhưng đó là những khoảnh khắc không chụp hình. Nay chúng bỗng ùa về, chỉ còn mảnh vụn. Ngồi bần thần một lát, rồi Hà gọi điện cho Hương. “Tao tìm được một tấm ảnh. Năm đứa mình năm tám lăm”. Hương đến khoảng chín giờ tối. Mang theo một hộp bánh flan mua dọc đường. Hai người ngồi trên ghế sofa cũ. Tấm ảnh nằm giữa bàn, cạnh hai ly trà. Khi mới nhìn thấy tấm hình, Hương hơi bị rơi vào trạng thái gì đó, như là sự kích động? Cô cười cô nói mặc kệ người nghe là Hà cứ trầm ngâm. Giờ đây Hương nhìn tấm hình rất lâu rồi nói như than: “Trời ơi… năm ấy mình gầy dữ thần”. Hà chỉ vào Mai: “Còn liên lạc với nó hông?” Hương lắc đầu, rồi sửa lại: “Có. Thỉnh thoảng. Mà lâu rồi không hỏi. Mai lấy chồng sớm lắm, năm chín mươi gì đó. Sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Chồng nó mất cách đây mười mấy năm. Bây giờ nó sống một mình ở Cali, mở quán ăn Việt Nam mà tao không nhớ có phải là phở không. Hồi mới đi, nó viết thư nữa, rồi lâu lâu còn nhắn tin cho tao mấy lần, hỏi thăm tụi mày”. Hà im lặng, cảm thấy như mình có lỗi khi thiếu quan tâm đến bạn cũ. Trong đầu cô hiện lên hình ảnh Mai ngồi dưới gốc me, Kim gảy đàn, tóc cả hai bay bay. Mai hát “Có tự bao giờ, hàng me xanh ngắt, mà nay đứng đó cho em làm thơ…” Hình ảnh ấy cũng đã lưu lạc. Nó không còn thuộc về ai nữa? Bài hát có cái tên rất hay “Thành phố, tình yêu và nỗi nhớ”, khi đi xa đến như thế, khi nào thì Mai nhớ và khi nào Mai quên? “Còn Thảo?” Hương đưa tay nâng ly trà, uống một ngụm trước khi trả lời, hơi nghẹn giọng: “Thảo làm giáo viên tiểu học. Có một đứa con trai. Nhưng đời nó… không êm. Chồng bỏ đi khi thằng nhỏ còn bé. Nó nuôi con một mình. Tao gặp lại nó một lần cách đây hơn mười năm, ở đám tang má nó. Nó gầy lắm, ít nói”. Hà chỉ vào người đứng cuối hàng trong ảnh: “Kim thì sao?” Hương không trả lời ngay. Ngón tay cô khẽ vuốt nhẹ mép ảnh. Một lúc lâu sau mới nói, giọng đều đều: “Kim mất rồi. Năm chín tám. Tai nạn xe máy. Lúc đó nó mới ba mươi hai, vừa mới có thai”. Hà không khóc. Chỉ ngồi co cứng. Kim là người từng đưa cho Hà chiếc áo mưa trong một buổi chiều mưa tầm tã năm thứ ba. Kim cũng là người đã kéo Hà ra khỏi khủng hoảng khi Hà trượt môn và suýt bỏ học. Bây giờ Kim chỉ còn là một khuôn mặt cười trong tấm ảnh ố vàng. Rồi Hà nhớ, năm chín tám, Hà vẫn dạy học tít ở một huyện vùng hơi cao cao của Thừa Thiên – Huế. Cuộc sống vất vả, xa quê, tin tức cũng xa dần. Người Hà vẫn liên lạc nhiều nhất là Hương nhưng cũng không thể cập nhật hết các tin tức. Lúc đó nhiều chuyện cần biết cần quan tâm hơn… Đêm đó họ nói chuyện đến gần hai giờ sáng. Chuyện cũ, lặt vặt những mảnh. Hương nhớ lần năm đứa trốn học đi ăn bánh mì thịt nguội ở góc đường Pasteur. Hà nhớ lần Kim khóc vì bị điểm kém môn triết. Họ cười, rồi im, rồi lại cười. Ngoài trời mưa lại rơi. Khi Hương về, Hà ngồi lại một mình với tấm ảnh. Chị nghĩ: Có lẽ tất cả chúng ta đều là những hình ảnh lưu lạc của chính mình. Cô gái năm tám lăm trong tấm ảnh không còn tồn tại. Cô ấy đã trôi đi đâu đó, để lại một người phụ nữ trung niên ngồi đây cầm tấm ảnh của một phiên bản đã mất. Một tuần sau Hương gọi lại: “Tao tìm được trang phây của Mai. Nó muốn nói chuyện với mày” Cuộc gọi video diễn ra vào sáng chủ nhật. Mai tóc bạc nhiều, nhưng đôi mắt vẫn sáng như ngày nào. Ba người nhìn nhau qua màn hình. Mai cười trước và cười lớn: “Trời ơi, tụi bay già dữ vậy?” Hương đáp: “Mày cũng đâu còn trẻ?” Mở đầu như vậy là để không bi lụy. Mai khôn, cách tốt nhất để không khóc nức lên khi nhắc lại chuyện cũ là cười, là chọc nhau. Mai kể chuyện những ngày đầu ở Mỹ, khi còn chẳng biết nói gì ngoài “hello” và “thank you”. Kể chuyện chồng mất, những đêm ngồi một mình trong căn nhà nhỏ. Hà hỏi, nghe là mày mở quán phở? Mai cười ha ha, có phải ai người Việt sang đây đều mở quán phở đâu mày? Mở quán khó lắm, tao sống bằng trợ cấp xã hội thôi… Hà kể về hai đứa con đã lớn, việc về hưu sớm, cuộc sống giờ đều đặn nhưng đôi lúc vẫn thấy trống. Hương thì nói mình vẫn sống với má, vẫn độc thân, thỉnh thoảng đi uống cà phê với đám bạn già. Cuộc gọi kéo dài gần hai tiếng. Khi tắt máy, Hà ngồi im rất lâu. Cảm giác như vừa gặp lại một phần quá khứ đã lưu lạc, nhưng phần ấy đã đổi màu, đổi hình. Có một chuyện mấy người đều nghĩ, nhưng không ai mở lời nói ra. Đó là, vì sao tấm ảnh lại lưu lạc như vậy, từ ai và từ đâu? Tháng mười, Hương gọi điện, giọng khác lạ: “Hà… tao tìm được Thảo. Nó đổi tên, sống ở Đà Lạt lâu rồi. Và… nó đang giữ một thứ của Kim”. Hai người lên Đà Lạt bằng xe khách đêm. Sáng sớm đến nơi, trời se lạnh. Họ tìm theo địa chỉ một căn nhà gỗ nhỏ, sát triền đồi. Trước cửa có vài chậu hoa cúc họa mi. Trong nhà, trên bàn thờ nhỏ, ngoài ảnh ông bà còn có tượng Phật Quan Âm bằng gỗ, bình hoa tươi. Thảo mở cửa. Tóc muối tiêu, áo bà ba nâu, mắt bình thản, cái mắt của người đã trải qua mọi sự. Nhìn hai người bạn cũ một lúc lâu rồi cô nói khẽ: “Vô đi. Tao biết rồi” Không rõ Thảo nói vậy là biết cái gì, nhưng hai người đều im lặng gật đầu. Họ ngồi trong phòng khách đơn sơ. Thảo pha trà, mời bánh ít lá gai. Một lúc sau Thảo mới nói: “Kim đưa cho tôi trước khi mất. Nó biết số mình không còn lâu? Tôi cũng không làm sao biết?”. Rồi Thảo đứng dậy, vào trong lấy ra một cuốn sổ tay bìa da nâu đã sờn. Đưa cho Hà. Hà mở. Chữ Kim quen thuộc, nét nghiêng nhẹ. Nhật ký viết từ năm cuối đại học đến những tháng cuối đời. Có đoạn kể chuyện năm đứa đi chơi, có đoạn kể chuyện yêu đương, có đoạn kể những lo âu về tương lai. Trang cuối cùng chỉ vài dòng: “Nếu có một ngày các bạn đọc cuốn sổ này, hãy nhớ rằng năm 1985 chúng ta đã từng rất hạnh phúc. Dù đời sau này có ra sao, hãy sống tiếp cho nhau”. Hà đặt sổ xuống, rồi cô khóc nức lên. Hương rớm nước mắt, vỗ vỗ vào lưng Hà. Thảo vẫn ngồi im, tay lần chuỗi hạt gỗ trên cổ. “Từ sau khi Kim mất, mỗi tháng tôi lên chùa một lần, tụng kinh cho Kim, cho những người đã đi trước”. Thảo nói khẽ “Rồi dần dần thấy lòng mình yên hơn”. Hương hỏi: “Sao mày không liên lạc với tụi tao?” Thảo nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi mây đang trôi trên đồi thông: “Lúc đó tao nghĩ mỗi người nên đi con đường của mình. Còn bây giờ… có lẽ nhân duyên đã tới”. Họ cùng ngồi ăn trưa, vài món chay. Thảo kể thêm vài chuyện về Kim những ngày cuối, Kim vẫn nói muốn một ngày nào đó năm đứa gặp lại. Thảo không nói nhiều về chuyện mình. Khi trời chiều, Hà nghỉ được một lát, khi chị đi ra ngoài phòng khách thì thấy Thảo đang cầm tấm ảnh lên xem, như từ rất lâu. “Tấm này…” Thảo nói, như đang nhớ lại điều gì đó rất xa. “Kim từng giữ nó. Khi Kim mất, đồ đạc của nó bị bán, bị cho, bị thất lạc nhiều thứ. Có lẽ tấm ảnh cũng theo những thứ ấy mà đi”. Không ai nói thêm. Chỉ có tiếng gió thổi qua hàng thông bên ngoài. Chiều hôm đó bốn người phụ nữ – ba người còn sống và một người đã khuất qua những dòng chữ – ngồi bên ban công nhìn mây. Họ không còn là những cô gái mười tám, hai mươi tuổi trong tấm ảnh năm 1985 nữa. Họ đã trở thành những hình ảnh khác của chính mình. Hà lại cầm tấm ảnh cũ, nhìn thật lâu. Trong lòng dấy lên một suy nghĩ lặng lẽ: Hình ảnh lưu lạc không chỉ là tấm ảnh này. Nó là tất cả những gì họ từng là, từng tin, từng yêu. Chúng trôi dạt theo năm tháng, theo những lựa chọn, theo cả những mất mát. Có thứ đổi dạng. Có thứ, như tấm ảnh này, sau bao nhiêu năm tháng lang thang, lại tìm đường trở về. Để nhắc rằng họ từng sống, từng được yêu, và từng có nhau. Ngoài kia, Đà Lạt bắt đầu lên đèn. Mưa nhẹ rơi trên đồi thông, mỏng và lạnh. n 15-16/8/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC TRONG HÌNH CŨ Truyện ngắn của HỒNG VŨ NGUYÊN MINH HỌA: HUỲNH TY
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==