Báo Tiền Phong số 210

14 n Thứ Tư n Ngày 29/7/2026 Theo các chuyên gia, sự phát triển của công nghệ giải trình tự gen đã mở ra cơ hội tiếp cận nguyên nhân bệnh tật ở cấp độ phân tử, song việc ứng dụng vào thực tiễn tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do thiếu dữ liệu hệ gen đặc trưng của người Việt. Phần lớn CSDL gen hiện nay được xây dựng trên quần thể người ở các nước trên thế giới, chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm di truyền của người Việt Nam. Không chỉ trong lĩnh vực y học, nhu cầu xây dựng dữ liệu hệ gen cũng trở nên cấp thiết đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm, có giá trị khoa học, kinh tế. Tuy nhiên, dữ liệu hệ gen và quan hệ di truyền của nhiều loài sinh vật vẫn còn thiếu, gây khó khăn cho việc định danh, đánh giá tiến hóa, bảo tồn nguồn gen cũng như khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên sinh học. Trước yêu cầu xây dựng nguồn dữ liệu hệ gen phục vụ cả chăm sóc sức khỏe con người và nghiên cứu đa dạng sinh học, việc làm chủ công nghệ giải trình tự gen và phát triển các CSDL đặc trưng của Việt Nam trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Trước yêu cầu đó, các nhà khoa học của Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đứng đầu là GS.TS Nguyễn Huy Hoàng đã triển khai đề tài “Phát triển nhóm nghiên cứu xuất sắc hạng I về nghiên cứu đột biến gen của một số bệnh trên người và giải mã hệ gen sinh vật có giá trị phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu gen của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam”. THÚC ĐẨY Y HỌC CHÍNH XÁC Từ CSDL gen, nhóm nghiên cứu đã xác định được nhiều đột biến gen liên quan đến các bệnh hiếm gặp, như suy giảm miễn dịch, bệnh vảy cá Harlequin, loạn dưỡng cơ đai chi, loạn sản cột sống type 4, còi xương phụ thuộc vitamin D, suy tuyến yên và một số bệnh cơ tim di truyền. Đặc biệt, nhóm đã phát hiện một biến thể mới trên gen ABCA12 chưa từng được ghi nhận trước đây, giúp làm rõ nguyên nhân gây bệnh vảy cá Harlequin ở trẻ sơ sinh và bổ sung dữ liệu có giá trị cho nghiên cứu di truyền học trên thế giới. Ngoài ra, nhóm còn mở rộng nghiên cứu sang các bệnh ung thư, lĩnh vực đang có xu hướng ứng dụng mạnh mẽ các dữ liệu di truyền trong chẩn đoán và điều trị cá thể hóa. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh SUMO2 - một gen có vai trò cân bằng chức năng nội mô mạch máu - hoạt động mạnh hơn ở mô ung thư so với mô bình thường. Đối với ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng và bệnh bạch cầu lympho cấp, nhóm đã xác định nhiều biến thể trên các gen liên quan đến nguy cơ mắc bệnh. Đây là nguồn dữ liệu tham chiếu quan trọng, hỗ trợ các bác sĩ trong chẩn đoán, tư vấn di truyền, tiên lượng bệnh và mở ra cơ hội phát triển các phương pháp điều trị theo hướng cá thể hóa. Trong lĩnh vực sinh vật biển, nhóm tập trung nghiên cứu các loài rong biển và cỏ biển. Thông qua việc phân tích đặc điểm và dữ liệu di truyền của các loài, nhóm đã xây dựng CSDL phục vụ nhận diện chính xác nguồn gen sinh vật biển ở Việt Nam. Ở nhóm động vật có giá trị và nguy cơ tuyệt chủng, nghiên cứu đã mở rộng phân tích trên nhiều nhóm thú, bò sát và lưỡng cư như chuột chũi, chuột chù, cá cóc, thạch sùng mí, nhông ô rô vảy, ếch cây và nhái bầu. Các nhà khoa học không chỉ phân tích hình thái, âm sinh học, giải trình tự hệ gen ty thể của một số loài mà còn phân tích các gen liên quan để đánh giá quan hệ di truyền, đồng thời xây dựng các giả thuyết về lịch sử tiến hóa của nhiều nhóm loài trong mối liên hệ với quá trình kiến tạo địa chất và biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi giải trình tự trên nhiều nhóm bệnh và các loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam, đồng thời bổ sung, cập nhật và hoàn thiện CSDL hệ gen. Đây là bước đi quan trọng hướng tới xây dựng hệ sinh thái dữ liệu hệ gen mang đặc trưng của Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự phát triển của y học chính xác và khoa học sự sống trong giai đoạn mới. TUỆ MINH Giải mã “bản đồ sự sống” ở Việt Nam Các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thành công trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) hệ gen quy mô về đặc điểm di truyền gen của bệnh nhân người Việt và nhiều loài sinh vật có giá trị, góp phần tạo nền tảng cho chẩn đoán bệnh, phát triển y học chính xác và bảo tồn đa dạng sinh học. GS.TS Nguyễn Huy Hoàng cùng cộng sự tại phòng nghiên cứu Triển khai Hệ thống cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm học đường Sở KH&CN Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch triển khai Hệ thống cơ sở dữ liệu về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm học đường thành phố Hà Nội - HanoiCheck, dự kiến vận hành từ năm học 20262027. Hệ thống được xây dựng theo mô hình quản lý tập trung, liên thông dữ liệu, kết nối với các hệ thống thông tin dùng chung của thành phố. Lạng Sơn số hóa quản lý công đức tại di tích và lễ hội Sở KH&CN tỉnh Lạng Sơn đang xây dựng Hệ thống quản lý công đức, tài trợ và nguồn thu tại các di tích, cơ sở tín ngưỡng và lễ hội. Sau khi hoàn thiện, Hệ thống sẽ được thử nghiệm trong vòng 3-6 tháng, làm cơ sở khoa học và thực tiễn để đánh giá toàn diện trước khi triển khai chính thức trên địa bàn toàn tỉnh. Kết nối sàn giao dịch KHCN Cần Thơ và TPHCM Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TPHCM và Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ thành phố Cần Thơ sẽ thiết lập cơ chế liên kết giữa Sàn Giao dịch công nghệ TPHCM và Sàn Giao dịch công nghệ thành phố Cần Thơ. Việc liên kết sẽ giúp hai bên cùng phối hợp tổ chức các chương trình trưng bày, triển lãm, hội thảo, diễn đàn và sự kiện kết nối cung - cầu công nghệ, đồng thời kết nối doanh nghiệp với các viện, trường, tổ chức khoa học và công nghệ, qua đó thúc đẩy hoạt động chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ của hai địa phương. NGUYỄN HOÀI Bộ KH&CN cho biết, thời gian qua, các chủ trương, chính sách mới đã được ban hành, nhằm thúc đẩy đổi mới phương thức cấp và quản lý kinh phí nghiên cứu khoa học theo hướng tăng quyền tự chủ, giảm quản lý đầu vào, chuyển sang quản lý theo mục tiêu, kết quả và sản phẩm đầu ra. Điều này đã được thể chế hóa trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Ngân sách nhà nước và các nghị định hướng dẫn thi hành. Bộ KH&CN đã ban hành Công văn số 4194/BKHCN-KHTC ngày 16/6/2026 về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2027. Trong đó hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thực hiện dự toán cho lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ KH&CN, về cơ bản, các quy định về cơ chế cấp kinh phí theo gói đã được luật hóa, nghị định hóa và đang được triển khai trong thực tiễn. Hiện nay, trọng tâm là tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ tại các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Đại diện Vụ Kế hoạch-Tài chính cho biết, thời gian tới, Bộ KH&CN sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để theo dõi quá trình triển khai, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh. Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tập huấn, hướng dẫn nhằm bảo đảm các cơ chế mới được thực hiện đầy đủ, hiệu quả, góp phần nâng cao quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu và nhà khoa học, gắn với trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Cấp kinh phí nghiên cứu theo gói đang là xu hướng quản lý hiện đại, giúp tăng quyền tự chủ cho các nhóm nghiên cứu, giảm thủ tục hành chính và tập trung đánh giá theo kết quả đầu ra thay vì kiểm soát chi tiết từng khoản chi. Cơ chế này tạo điều kiện triển khai các nghiên cứu dài hạn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. NGUYỄN HOÀI Với cách tiếp cận liên ngành, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu đột biến gen trên một số nhóm bệnh ở người, đồng thời giải mã hệ gen của các loài sinh vật có giá trị. Từ đó, xây dựng thành công hệ thống CSDL gen, phục vụ nghiên cứu và ứng dụng lâu dài. Thúc đẩy cấp kinh phí nghiên cứu theo gói Việc cấp kinh phí theo gói được kỳ vọng góp phần thúc đẩy các nhóm nghiên cứu mạnh (Trong ảnh: Nhóm nghiên cứu liên ngành về Y sinh và Sức khoẻ của Đại học Quốc gia Hà Nội) ẢNH: VNU Từ năm 2027, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đẩy mạnh cấp kinh phí nghiên cứu khoa học và công nghệ theo gói, nhằm tăng tính tự chủ trong nghiên cứu, giảm thủ tục hành chính và thúc đẩy hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==