TIỀN PHONG SỐ ĐẶC BIỆT 21/6/2026

49 21/6/2026 101 NĂM BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM Một giai thoại trong giới nhà văn, rằng một nhà văn có tuổi, yêu và muốn tiến tới với một nữ nhân kém hơn 20 niên. Chuyện gì đến phải đến, nữ nhân dẫn chàng về nhà ra mắt bố mẹ. Bố nàng lại còn kém tuổi chàng, một hai tuổi gì đó. Nhà văn, một người không kém về ngôn từ, nhưng lúng túng thực sự. Người yêu có tuổi của con gái gọi bố của nàng là “ngài” và tự xưng “bản thân”! Còn ông bố thì nhanh trí, hoặc đã nghĩ trước nát nước. Ông gọi người yêu của con mình là “đồng chí” và xưng “tôi”… Đó là một rào cản, một thử thách, đôi khi dở khóc dở cười. Mà hay! Có một chuyện rất nhỏ nhưng tôi tin rằng hầu như người Việt nào cũng từng trải qua: Bạn đang đi trên đường thì gặp một người quen của người quen. Hai người đã gặp nhau đâu đó một lần, có thể trong một đám cưới, một buổi họp lớp, cuộc gặp bạn bè. Người kia nhìn bạn có vẻ thân thiện. Bạn cũng thấy người này quen. Rồi đến lúc phải mở miệng. Và trong vài giây ngắn ngủi ấy, trong đầu bỗng diễn ra một cuộc họp khẩn cấp. Gọi là anh/ chị? Hay cô? Hay bác? Hay tốt nhất là lờ luôn đại từ đi cho an toàn? Nhưng có lờ được không, và có an toàn không, hay là thêm rắc rối. Những người nói tiếng Anh có lẽ khó hình dung được cảm giác đó. Họ chỉ cần một chữ “you” là xong. Còn người Việt thì không. Tiếng Việt không cho phép chúng ta “vô danh”. Nó buộc chúng ta phải xuất hiện trong lời nói với đầy đủ tuổi tác, vị thế, mức độ thân quen, thậm chí đôi khi cả tính cách và thái độ của mình. Chỉ riêng việc chào hỏi thôi cũng đã là một bài toán xã hội học thu nhỏ. Tôi từng có một người bạn nước ngoài học tiếng Việt. Một hôm anh hỏi: “Tại sao tiếng Việt lại có nhiều cách xưng hô đến thế?”. Tôi nghĩ mất vài giây: – Vì người Việt không chỉ nói chuyện. Người Việt còn xác định quan hệ. Lúc đó tôi nói theo cảm tính. Sau này đọc thêm về ngôn ngữ học, tôi mới nhận ra câu trả lời ấy không sai. Nhiều ngôn ngữ châu Âu có xu hướng khách quan hơn. Người nói và người nghe xuất hiện trong ngôn ngữ như những cá thể tương đối độc lập. “I” vẫn là “I”, “you” vẫn là “you”, bất kể người đối diện là giáo sư đại học, ông hàng xóm hay đứa trẻ lên năm. Tiếng Việt thì khác, nó giàu tính quan hệ. Trước khi nói, ta gần như phải xác định mình là ai trong mối quan hệ với người đối diện. Là anh hay em? Là cháu hay con? Là tôi hay mình? Là tao hay tớ? Tôi có ông anh già. Với tất cả bạn bè, đàn em nhỏ hơn tuổi, người quen sơ sơ, ông đều gọi là “ông” và xưng “tôi”. Trịnh trọng nhưng hơi xa cách, mà có vẻ lại hơi hài hài, kịch. Nghe đâu kiểu này thịnh hành trong giới trí thức thời Pháp thuộc. Mỗi lựa chọn xưng hô đều mang theo một lớp nghĩa xã hội. Người Việt không chỉ truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ mà còn truyền đạt vị trí của mình trong một mạng lưới quan hệ. Chính người bạn nước ngoài kể trên có lần than thở với tôi rằng học tiếng Việt giống như chơi cờ. Tôi thực sự ngạc nhiên, hỏi vì sao. Anh bảo: “Mỗi lần mở miệng là phải tính nước đi”. Tôi cười không nín nổi. Không thể nghĩ người nước ngoài khó xử đến thế. Chúng ta lớn lên cùng hệ thống ấy nên không thấy lạ nữa. Một đứa trẻ Việt Nam ba tuổi đã biết gọi người này là cô, người kia là dì, người nọ là bác. Nó chưa học ngữ pháp, chưa biết danh từ hay động từ là gì, nhưng đã bắt đầu tiếp xúc với một thế giới nơi mọi mối quan hệ đều có tên gọi riêng. Tôi thấy đây là một trong những điều thú vị nhất của tiếng Việt. Ở nhiều ngôn ngữ khác, gia đình và xã hội là hai phạm vi tương đối tách biệt. Ở tiếng Việt, gia đình gần như tràn ra ngoài xã hội. Có hồi người ta khuyến khích, thậm chí tiến tới quy định cách xưng hô trong công sở. Nhưng rồi… chẳng ai nhớ nữa. Người bán hàng có thể gọi khách là em. Người phục vụ có thể gọi khách là anh. Một cụ già có thể gọi người xa lạ là cháu. Hai người chưa từng gặp nhau vẫn có thể trở thành cô, chú, bác của nhau chỉ sau một câu chào hỏi. Là người Việt nghe thì thấy bình thường. Nhưng thực ra đó là cả một cách nhìn về thế giới khác với cộng đồng rộng lớn ngoài kia. Trong cách nhìn ấy, con người không tồn tại như những cá thể hoàn toàn độc lập. Con người luôn đứng trong một mối tương quan nào đó. Tuy nhiên, chính vẻ đẹp và sự thú vị ấy đôi khi cũng khiến người Việt khổ sở. Có những trớ trêu, kiểu như một bên nhất định gọi cô gái trẻ là “em”, nhưng cô gái ấy lại nhất định gọi bên kia là “chú”. Kiểu như người Nam gặp đứa cháu họ từ Bắc vô thân thiện gọi “con”, nhưng đứa cháu lúng túng lí nhí rằng “cháu chào chú ạ”. Nhất là trong thời đại hiện nay, quan hệ thầy trò chẳng hạn. Cứ lúng túng mãi giữa “thầy-cô” và “con” hay “em” và “thầy-cô”. Chuyện còn lan cả sang cái triết lý “Tiên học lễ, hậu học văn”… Nói mới nhớ, lâu rồi tôi cũng đi đến nhiều trường phổ thông mà không nhìn thấy câu ấy được treo lên nữa. Tôi thuộc thế hệ khá lửng lơ. Không còn đủ trẻ để xem mọi thay đổi là hiển nhiên, nhưng cũng chưa đủ già để khăng khăng rằng cái cũ luôn đúng. Thế hệ của tôi lớn lên trong môi trường sáng đọc một bài báo bằng tiếng Việt, chiều làm việc bằng tiếng Anh, tối lại xem một bộ phim Hàn Quốc phụ đề Việt (ngôn ngữ trong phụ đề nhiều lúc tức cười). Các hệ thống văn hóa chồng lấn lên nhau. Và điều đó tác động trực tiếp đến cách xưng hô. Tôi bắt đầu thấy ngày càng nhiều người trẻ gọi nhau bằng tên riêng. Không phải anh Minh. Không phải chị Lan. Chỉ đơn giản là Minh. Là Lan. Có kiểu Minh lớn hơn Lan, nhưng Lan lại gọi “Minh” và xưng “em”. Mà không phải vợ chồng đâu nhé. Nhiều người lớn tuổi cảm thấy khó chịu. Tôi hiểu, nhưng không nghĩ đó đơn thuần là sự xuống cấp của văn hóa như một số người lo ngại. Nó phản ánh một sự dịch chuyển khác. Một thế hệ muốn giảm bớt những tầng nấc thứ bậc trong giao tiếp và muốn được nhìn nhận trước hết như những cá nhân. Đó là một thay đổi đáng để suy nghĩ. Nhưng rồi tôi nhận ra điều khá buồn cười. Ngay cả khi người trẻ cố gắng đơn giản hóa việc xưng hô theo kiểu Tây, họ vẫn không thoát khỏi sự ám ảnh của tiếng Việt. Khi xưng hô, vẫn phải dò. Dò tuổi. Dò vai. Từ đó dò cách xưng hô. Tức là cái phần để “đơn giản hóa”, nó vẫn rất hẹp. Đôi khi tôi nghĩ đại từ nhân xưng tiếng Việt giống như những con phố nhỏ trong khu phố cổ. Phố nhỏ ngõ nhỏ, nhà tôi ở đó, một câu hát. Chúng quanh co, chúng rắc rối, thỉnh thoảng khiến người ta đi lạc, nhưng chính những điều đó lại tạo nên bản sắc. Nếu một ngày nào đó tất cả chỉ còn “tôi” và “bạn”, chắc chắn việc giao tiếp sẽ đơn giản hơn. Kiểu quân đội? Người học tiếng Việt cũng sẽ đỡ vất vả hơn. Nhưng không biết liệu chúng ta có mất đi điều gì không. Bởi trong tiếng Việt, hệ đại từ đã tạo ra ký ức văn hóa. *** Thú vị hơn nữa, câu chuyện xưng hô giờ đã đi xa đến mức lan sang cả những đối tượng vốn không phải con người. Chẳng hạn như các chương trình trí tuệ nhân tạo. Nhiều người gọi ChatGPT là “bạn” xưng “tôi”, có màu “quốc tế”. Nhưng rồi mọi chuyện nhanh chóng trở nên... rất Việt Nam. Có người gọi AI là em. Thậm chí “em yêu” (đùa dai chứ không biến thái). Có người gọi anh. Có người gọi là cháu hay cậu. Tôi từng thấy một bác lớn tuổi viết rất nghiêm túc: “Cháu ơi, giúp bác làm cái này được không?”. Ở một diễn đàn khác, một bạn trẻ (nữ) lại hỏi: “Anh ơi, em đang bí ý tưởng quá”. Trong khi đó, một người khác mở đầu bằng: “Mày nghĩ sao về chuyện này?”. Tôi không biết trí tuệ nhân tạo có cảm xúc hay không, nhưng nếu có, chắc hẳn nó sẽ rất bối rối trước hệ thống đại từ của người Việt. Ngay cả với một thực thể không tuổi tác, không giới tính và không có thân phận xã hội rõ ràng, người Việt vẫn cố gắng đặt nó vào một mối quan hệ nào đó. Chúng ta dường như không chịu nổi trạng thái vô danh. *** Tôi nhớ có lần đọc một bức thư cũ của ông tôi gửi cho cha tôi. Trong thư có những cách xưng hô mà bây giờ gần như không còn ai dùng nữa: “Cha rất vui khi nhận được thư của con”. “Cha mong con giữ gìn sức khỏe”. Không hiểu sao tôi ứa nước mắt. Những dòng chữ ấy khiến tôi có cảm giác như đang bước vào một căn nhà cổ còn lưu mùi gỗ cũ. Có gì đó xa xôi. Mà đẹp. Ngôn ngữ vốn là một sinh thể sống. Không ai có thể yêu cầu nó đứng yên. Một số đại từ sẽ mất đi. Một số cách xưng hô mới sẽ xuất hiện. Điều đó đã từng xảy ra trong quá khứ và sẽ còn tiếp tục xảy ra. Có lẽ câu hỏi quan trọng không phải là nên giữ hay nên bỏ. Mà là ta hiểu được điều gì đang nằm phía sau những từ ngữ ấy. Khi một người Việt phân vân vài giây trước khi gọi ai đó là anh, là chị hay là bác, họ không chỉ đang chọn một đại từ. Họ đang lựa chọn khoảng cách, thái độ, vị trí của mình trong mối quan hệ với người đối diện. Họ đang lựa chọn cách mình xuất hiện trong thế giới. Mỗi đại từ đều chứa đựng một cách nhìn về người khác. Nó nhắc rằng con người không phải những hòn đảo đứng riêng rẽ. Và có lẽ đó là lý do tôi vẫn yêu sự rắc rối này của tiếng Việt. Biết đâu, đó chính là cách ngôn ngữ này bảo vệ căn tính của chúng ta. n Tiếng Việt không cho ta “vô danh” Tạp văn của ĐỖ TRUNG HÀ

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==