Báo Tiền Phong số 206-207

18 NĂM DUY TRÌ LỚP HỌC MIỄN PHÍ Ở đầu phố Cát Linh, đoạn gần Văn Miếu (Hà Nội), cứ mỗi chiều thứ Bảy, Di tích lịch sử - văn hóa Bích Câu đạo quán lại vang lên những thanh âm tưởng như chỉ còn trong sách cũ. Lớp học ca trù miễn phí cho đến nay đã bước sang năm thứ 18 vẫn lặng lẽ mở cửa đón bất kỳ ai muốn tìm hiểu một trong những loại hình nghệ thuật bác học đặc sắc nhất của dân tộc. Năm 2008, khi vợ chồng nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Vân Mai và Trần Văn Trúc bắt đầu mở lớp, ca trù vẫn chưa được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Thời điểm ấy, lớp học chỉ có vài học viên là con em, người quen trong gia đình. Đến nay, sau gần hai thập kỷ, lớp đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của học sinh, sinh viên, người đi làm, người cao tuổi và cả những du khách quốc tế tình cờ biết đến qua mạng xã hội. Chị Hoàng Thúy Hoa (45 tuổi) cho biết: “Mỗi buổi học đều cho tôi cảm giác rất đặc biệt vì không giống bất kỳ lớp nghệ thuật nào trước đây. Nghệ nhân ngồi giữa học viên, cầm tay chỉnh từng nhịp phách, sửa từng cách lấy hơi hay hướng dẫn từng động tác bấm dây đàn đáy. Trước đây tôi chỉ thấy ca trù hay ở giai điệu, nhưng khi được học thì mới cảm nhận hết sự tinh tế của ca trù”. Trần Minh Thanh (18 tuổi, Hà Nội) cho biết: “Em đăng ký học chỉ vì nghĩ đến lúc đi du học thì mình sẽ có thêm vốn liếng về văn hóa truyền thống để giới thiệu với bạn bè quốc tế. Nhưng càng học, em càng thấy thích. Điểm khó nhất của ca trù là những câu hát cao, cần nhiều kỹ thuật luyến láy. Em nghĩ đây không chỉ là một môn nghệ thuật mà còn là một phần rất đẹp của văn hóa Việt Nam”. Gọi là lớp học ca trù nhưng ở đây không chỉ đào tạo ca nương. Học viên có thể lựa chọn học hát, học đàn đáy hoặc học cầm chầu. Sau nhiều năm duy trì, lớp học thu hút khoảng vài trăm học viên, 30 người trong số đó có thể biểu diễn trực tiếp trên sân khấu. Những học viên gắn bó nhiều năm cũng được giao thêm nhiệm vụ hướng dẫn người mới, tạo nên một quá trình truyền nghề liên tục giữa nhiều thế hệ. Mô hình lớp học mở này cũng xóa bỏ quan niệm lâu đời rằng ca trù là nghệ thuật dành riêng cho những người trong nghề hoặc trong dòng họ. Theo Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Vân Mai, trước đây việc truyền dạy rất hạn chế vì nhiều giáo phường chỉ truyền nghề cho con cháu. Ngày nay, bất kỳ ai có tình yêu với ca trù đều có thể bước vào lớp học mà không cần bất cứ điều kiện nào. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa (Viện nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc), giá trị lớn nhất của lớp học không nằm ở việc đào tạo thêm bao nhiêu ca nương hay kép đàn, bởi không phải ai đến đây cũng hướng tới con đường biểu diễn chuyên nghiệp. Có người muốn tìm hiểu sâu hơn về âm nhạc truyền thống, có người tìm một khoảng lặng sau những ngày làm việc căng thẳng, cũng có những bạn trẻ lần đầu biết đến tiếng đàn đáy rồi dần trở thành người yêu ca trù. Điều quan trọng hơn cả là lớp học đang góp phần hình thành một lớp công chúng mới cho di sản. Bởi một loại hình nghệ thuật chỉ có thể sống bền vững khi bên cạnh những người thực hành còn có những người biết lắng nghe, biết thưởng thức và sẵn sàng quay trở lại với nó. Xây dựng công chúng, ở góc độ đó, cũng chính là một hình thức bảo tồn di sản lâu dài. Bởi xét cho cùng người thưởng thức cũng là một mắt xích của hệ sinh thái di sản. Họ mua vé, tạo nhu cầu, đưa di sản vào đời sống và tạo động lực để nghệ nhân tiếp tục gắn bó với nghề. Để học viên có môi trường thực hành, từ năm 2017, Giáo phường Ca trù Bích Câu thành lập Nhà hát Ca trù Bích Câu với các buổi biểu diễn miễn phí vào tối thứ Bảy hằng tuần. Sau mỗi buổi học, nhiều học viên có cơ hội bước lên sân khấu, trình diễn những gì mình vừa được truyền dạy. Quá trình học và biểu diễn diễn ra trong cùng một không gian đã tạo nên vòng tuần hoàn đặc biệt: người học trở thành người biểu diễn, còn khán giả hôm nay có thể là học viên của tuần sau. Nghệ nhân Ưu tú Trần Koóng, đồng sáng lập Nhà hát Ca trù Bích Câu cho biết, nhiều du khách quốc tế, trong đó có nghệ sỹ opera, đã đến giao lưu, cùng chia sẻ về nghệ thuật truyền thống của mỗi quốc gia. BIẾN DI TÍCH THÀNH LỚP HỌC, NHÀ HÁT, KHÔNG GIAN SÁNG TẠO… Trong nhiều năm, không ít di tích ở Việt Nam vẫn tồn tại theo mô hình ban ngày đón khách tham quan, giới thiệu lịch sử, kiến trúc, hiện vật; hết giờ mở cửa lại trở về trạng thái tĩnh lặng. Giá trị của di tích được nhìn nhận chủ yếu ở khía cạnh lưu giữ ký ức quá khứ. Theo PGS. TS Đặng Văn Bài, điều đó là cần thiết, nhưng chưa đủ. Bởi phần lớn đình, đền, chùa, quán, phủ hay nhà cổ trong lịch sử đều từng là không gian sinh hoạt cộng đồng. Ở đó có lễ hội, có biểu diễn nghệ thuật, có truyền dạy nghề, có các hoạt động tín ngưỡng, học tập và giao lưu. Nói cách khác, yếu tố làm nên sức sống của di tích không chỉ là kiến trúc mà còn là con người và những hoạt động diễn ra bên trong. Đó cũng là lý do một số chuyên gia cho rằng, cách phát huy giá trị di tích trong giai đoạn mới cần dịch chuyển từ tư duy mở cửa để tham quan sang mở cửa để sử dụng. Sử dụng ở đây không phải là khai thác thương mại bằng mọi giá, mà là tổ chức các hoạt động phù hợp với giá trị lịch sử và văn hóa của từng di tích. Một ngôi đình có thể là nơi diễn xướng chèo, hát văn hay quan họ. Một nhà cổ có thể trở thành không gian đọc sách, tọa đàm, triển lãm nghệ thuật. Một di tích gắn với nghề truyền thống có thể mở lớp trải nghiệm, truyền nghề cho thanh thiếu niên. Khi có thêm những hoạt động ấy, di tích không chỉ được bảo tồn về vật chất mà còn tiếp tục thực hiện đúng chức năng văn hóa vốn có. Thực tế, nhiều quốc gia đã đi theo hướng này từ khá sớm. Những lâu đài ở châu Âu thường xuyên trở thành sân khấu hòa nhạc, các tu viện cổ tổ chức triển lãm nghệ thuật đương đại, còn nhiều đền, chùa ở Nhật Bản mở lớp thiền, trà đạo, thư pháp hay hòa nhạc truyền thống. Ở Việt Nam, những tín hiệu tích cực đã xuất hiện. Hoàng thành Thăng Long tổ chức nhiều chương trình giáo dục di sản cho học sinh; Văn Miếu - Quốc Tử Giám phát triển các hoạt động trải nghiệm thư pháp, triển lãm nghệ thuật; một số làng cổ kết hợp không gian di sản với trình diễn nghề thủ công và văn hóa dân gian. Tuy nhiên, những mô hình như Bích Câu đạo quán vẫn còn khá hiếm, trong khi dư địa để phát triển là rất lớn. n 25-26/7/2026 www.tienphong.vn VĂN HÓA 10 KHÔNG HỌC PHÍ, KHÔNG GIỚI HẠN TUỔI TÁC, GIỚI TÍNH, QUỐC TỊCH, LỚP CA TRÙ TẠI BÍCH CÂU ĐẠO QUÁN SUỐT GẦN HAI THẬP KỶ QUA VẪN ĐỀU ĐẶN MỞ CỬA MỖI TUẦN. TỪ MỘT LỚP HỌC CHỈ CÓ VÀI HỌC VIÊN BAN ĐẦU, NƠI ĐÂY ĐÃ TRỞ THÀNH ĐIỂM HẸN CỦA NHIỀU THẾ HỆ YÊU VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG, TẠO NÊN MỘT MÔ HÌNH GÌN GIỮ DI SẢN KHIÊM TỐN VỀ QUY MÔ SONG LẠI BỀN BỈ VỀ SỨC SỐNG NGAY GIỮA THỦ ĐÔ. Sau 18 năm, lớp ca trù ở Bích Câu đạo quán đã tạo được một số măng non kế cận Du khách nước ngoài thích thú khám phá ca trù của Việt Nam TIẾNG PHÁCH chiều thứ Bảy HẠ ĐAN Theo nghệ nhân Trần Koóng, ca trù từng phát triển rực rỡ với sự tham gia sáng tác của nhiều danh nhân văn hóa như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tản Đà, Dương Khuê… Tuy nhiên, do những biến tướng trong một giai đoạn lịch sử, loại hình nghệ thuật này gần như biến mất khỏi đời sống. Dù được UNESCO ghi danh từ năm 2009, ca trù vẫn nằm trong danh sách di sản cần được bảo vệ khẩn cấp do thiếu không gian biểu diễn, ít người theo học và khó tạo sinh kế cho nghệ nhân. Theo các nghệ nhân, bảo tồn ca trù không thể chỉ trông chờ vào tâm huyết của những người đang giữ nghề. Muốn loại hình nghệ thuật này thực sự hồi sinh, cần tạo ra một hệ sinh thái đủ rộng, từ các lớp học miễn phí, không gian biểu diễn định kỳ đến những hoạt động quảng bá, trải nghiệm để ca trù hiện diện thường xuyên hơn trong đời sống văn hóa đương đại. Đây cũng là hướng đi phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Bảo tồn không phải để lưu giữ di sản trong trạng thái tĩnh, mà để di sản tiếp tục sống bằng chính sự tham gia của cộng đồng.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==