TIỀN PHONG SỐ ĐẶC BIỆT 2/9/2026

35 2 9 KÝ ỨC Cơn mưa cuối mùa trút xuống mái tôn căn nhà nhỏ của Trung tá Nguyễn Cảnh Lương (SN 1952, xã Vạn An, Nghệ An). Ngoài sân, nước mưa trắng xóa. Trong nhà, người lính từng đi qua 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị chậm rãi lật lại những ký ức đã nằm sâu hơn nửa thế kỷ. Ông bảo, mùa hè năm 1972 ở Thành cổ có đến ba mùa mưa. “Một là mưa bom, bão đạn. Hai là mưa của thời tiết, với trận lụt lịch sử. Và ba là mưa đỏ - máu, xương và thân thể của những người lính đã ngã xuống”, giọng ông chùng xuống. Năm ấy, Nguyễn Cảnh Lương 20 tuổi. Là đảng viên trẻ, Bí thư Đoàn thanh niên Hợp tác xã Lam Sơn, huyện Thanh Chương (cũ), ông xung phong nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện và một tháng hành quân bộ, ngày 20/6/1972, người lính trẻ có mặt trong đội hình Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27, Quân khu 4, vượt sông tiến vào Thành cổ. Ngày 28/6/1972, cuộc chiến bắt đầu. 81 ngày đêm sau đó là những ngày tưởng như không có điểm kết thúc. Trên khoảng đất chỉ khoảng 3km2, người trước ngã xuống, người sau được bổ sung. Có người vừa vào đơn vị, chưa kịp nhớ tên đồng đội đã hy sinh. “Đơn vị cứ thế mòn đi từng ngày”, ông Lương nhớ lại. Mùa hè Quảng Trị nóng như nung, đất đá bỏng rát, khói bom quện mùi thuốc súng. Rồi nước lũ từ sông Thạch Hãn dâng lên, tràn vào những căn hầm chật hẹp. Trong 81 ngày đêm, thị xã và Thành cổ Quảng Trị hứng chịu khoảng 328.000 tấn bom đạn. Nhưng những con số ấy, với người trực tiếp chiến đấu, vẫn không thể kể hết sự khốc liệt. “Chúng tôi ngồi trong hầm, nước bùn ngập đến bụng. Đầu đầy chấy, da bám từng mảng đất. Bom đạn vãi xuống như mưa. Anh em bị thương, hy sinh, máu trộn với bùn. Có những người nằm xuống, anh em vừa chôn xong thì bom lại cày lên...”, ông bỏ lửng câu nói, ánh mắt nhìn xa xăm. BÒ VÀO TRẬN ĐỊA ĐỊCH TÌM ĐỒNG ĐỘI Ngày 16/8/1972, một mảnh pháo găm vào đầu Nguyễn Cảnh Lương. Được đưa ra tuyến sau điều trị, vết thương chưa lành, ông đã tìm cách trở lại Thành cổ. “Anh em còn ở trong đó. Mình nằm ngoài không yên được”, ông tâm sự. Đầu tháng 9/1972, nước lũ tiếp tục dâng cao. Vừa trở lại đơn vị, ông Lương nhận nhiệm vụ cùng bốn đồng đội tìm ba liệt sĩ đang nằm trong khu vực địch kiểm soát. Chập tối, năm người lặng lẽ xuất phát. Họ bò qua những hố bom, hố đạn đầy bùn nước. Đất nhão, mỗi lần nhích người lại phải ghìm chặt cơ thể xuống mặt đất. Bom pháo có thể làm địa hình thay đổi chỉ sau một đợt dội xuống. Đến 2 giờ sáng, họ vẫn chưa tìm thấy đồng đội. Rồi một mô đất hiện ra trong bóng tối, ba thi thể nằm ngang, ngay ngắn đến bất thường. Ông Lương lập tức cảnh giác: “Có thể đây là bẫy. Nếu lao vào cả tổ có thể hy sinh!”. Nguyễn Cảnh Lương ra hiệu cho đồng đội ẩn nấp, rồi một mình bò từng chút về phía ba thi thể. Dùng tay rà trên nền đất, ông Lương phát hiện ngay trước thi thể thứ nhất một quả lựu đạn Mỹ được úp bằng vỏ lon sữa. Chốt đã tháo, chỉ cần xê dịch, vỏ lon rơi xuống, quả lựu đạn có thể phát nổ. Ông nhanh chóng vô hiệu hóa quả thứ nhất. Tiếp tục bò đến thi thể thứ hai, ông lại phát hiện một quả lựu đạn giấu dưới chân người đã hy sinh. “Lúc đó chỉ nghĩ nếu không phát hiện thì cả nhóm có thể nằm lại đây!”, ông Lương kể. Hai quả lựu đạn được tháo ngòi, nhưng ba thi thể quá nặng. Một người được cử quay lại xin thêm lực lượng, những người còn lại bắt đầu kéo, đẩy đồng đội qua những giao thông hào ngập bùn. Đến gần một thi thể, ông nhìn thấy trong tay người lính một chiếc la bàn. “Khuôn mặt bị đạn pháo làm biến dạng, không thể nhận diện nhưng trong tay anh ấy có chiếc la bàn. Tôi nghĩ có thể là anh Ngọc, bởi thường cán bộ cấp đại đội mới có la bàn”, ông nhớ lại. Chiếc la bàn sau đó được ông Lương giữ lại. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó vẫn nằm trong những kỷ vật chiến tranh của người lính Thành cổ. Kim la bàn vẫn chỉ hướng, chỉ có người từng cầm nó trong tay là chưa thể tìm được tên. Chiến tranh kết thúc, Nguyễn Cảnh Lương tiếp tục học tập, công tác trong quân đội, nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Nhiều năm sau, mỗi khi có điều kiện, ông lại trở về Quảng Trị, thắp hương cho đồng đội. Ký ức Thành cổ trong ông không chỉ có bom đạn, đó còn là những con người ở phía bên kia chiến tuyến. Có thời điểm hai bên tạm ngừng bắn, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 của ông chốt phía trước, cách vị trí Lữ đoàn 147, Sư đoàn Thủy quân lục chiến của chính quyền Sài Gòn chỉ một thửa ruộng. Trong những khoảng lặng hiếm hoi, hai bên có thể nghe thấy tiếng gọi nhau. Một người lính tên Tung và một phụ nữ tên Trà My thường mang kẹo sang “tâm lý chiến”. Ông Lương từ chối. Có lần, phía bên kia nói người lính giải phóng “da vàng quá”, hàm ý cuộc sống thiếu thốn, đói khổ. Ông đáp: “Dân tộc ta là dân tộc da vàng, gan vàng, dạ sắt!”. Sau này, trong quá trình làm công tác địch vận, ông Lương thuyết phục một người lính phía bên kia phản chiến, vượt phòng tuyến sang vùng giải phóng. Người ấy tên Minh (quê Cam Thạch, Cam Lộ, Quảng Trị). Cũng có thể vì lý do an toàn, anh không khai đúng tên thật. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ông Lương vẫn mong một lần gặp lại người lính năm xưa. Không phải để hỏi chuyện cũ, càng không phải để nhắc lại những tháng ngày ở hai bên chiến tuyến. “Không phải để hỏi gì cả. Chỉ muốn biết anh ấy sống thế nào, giờ ở đâu”, Trung tá Nguyễn Cảnh Lương bày tỏ. n n THU HIỀN Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị ẢNH: TƯ LIỆU Chiếc la bàn được ông Lương lưu giữ hơn nửa thế kỷ, gắn với ký ức về một người lính tên Ngọc đã hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị với Trung tá Nguyễn Cảnh Lương là ký ức của “ba mùa mưa”: mưa bom, mưa lũ và “mưa” máu xương đồng đội. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những ký ức ấy vẫn nguyên vẹn trong ông. BA MÙA MƯA Trung tá Nguyễn Cảnh Lương được Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huy chương Chiến sĩ Giải phóng... “Ngày 16/9/1972, quân ta rút khỏi Thành cổ. Hàng ngàn người lính đã nằm lại nơi đây, riêng Trung đoàn 27 có 299 người hy sinh. Điều đau nhất là nhiều người nằm xuống khi tuổi còn rất trẻ. Có người chưa kịp biết quê ở đâu, nhà có những ai...”. Trung tá NGUYỄN CẢNH LƯƠNG NỀN MÓNG ĐỘC LẬP - HÙNG CƯỜNG

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==