Báo Tiền Phong số 192-193

Một người bạn từng kể rằng hồi trẻ, khi anh đang làm ở một tạp chí văn nghệ, anh mê một nhà thơ nổi tiếng đến mức thuộc gần hết tập thơ. Trong trí tưởng tượng của anh, tác giả ấy nói năng nhỏ nhẹ, đi đứng khoan thai, nhìn lá rơi cũng thành thơ. Rồi một hôm anh được giao đưa nhà thơ đi dự hội nghị. Suốt quãng đường, vị thi sĩ ấy chỉ nói ba chuyện: tiền nhuận bút, giá bia hơi và chuyện một đồng nghiệp vừa được giải thưởng mà theo ông là “không xứng”. Anh bạn về kể, mặt buồn như vừa đánh mất tuổi trẻ. “Tôi không còn đọc thơ ông ấy như trước”. Có một lời khuyên trong giới văn chương, nghe vừa hóm hỉnh vừa cay đắng: hãy yêu tác phẩm của nhà văn, nhưng đừng vội yêu nhà văn. Người ta còn nói thêm: đọc thơ thì được, nhưng đừng sống cùng nhà thơ. Đọc tiểu thuyết thì được, nhưng đừng đi du lịch với tiểu thuyết gia. Nếu có thể, hãy giữ một khoảng cách vừa đủ để những câu thơ vẫn còn ánh trăng. Trở lại với anh bạn, tôi hỏi: “Ông thấy thơ ông ấy có dở đi không?”; “Không. Chỉ là thấy người viết thơ khác với người trong thơ”. Một cách tự nhiên, ta quen dựng tượng. Không chỉ tượng bằng đồng, bằng đá mà những bức tượng vô hình trong lòng mình. Ta muốn người tài phải luôn cao thượng. Người viết thơ tình phải lãng mạn. Người viết truyện thiếu nhi phải hiền. Người viết về lòng nhân ái phải bao dung. Người viết về hy sinh phải biết hy sinh. Trong suy nghĩ ấy có một logic rất đẹp nhưng không phải lúc nào cũng đúng. Bởi văn chương là sản phẩm của một tâm hồn, còn đời sống lại là tổng hòa của tâm hồn, bản năng, hoàn cảnh, sức khỏe, tiền bạc, sĩ diện, ghen tị, cô đơn và cả những cơn cáu gắt vì mất ngủ. Tôi từng đọc hồi ký của nhiều văn nghệ sĩ nước ngoài, điều thú vị nhất không phải những chương viết về thành công mà chính là những đoạn họ tự kể về sự nhỏ nhen của mình. Có người thú nhận từng ganh tị, nói xấu bạn văn. Có người kể mình nghiện rượu. Có người thú nhận từng ngoại tình. Có người nói mình đã làm cha quá tệ. Có người thú nhận ham chơi bài bạc nên luôn sống trong cảnh nợ nần. Đó không phải là những trang viết để xin tha thứ. Mà giống như họ cố nói với độc giả: “Tôi cũng chỉ là người bình thường”. Ở Việt Nam, kiểu tự “lật chăn” mình không nhiều. Một phần vì văn hóa Á Đông vốn coi trọng thể diện. Một phần vì người nổi tiếng luôn chịu áp lực phải giữ hình ảnh. Nên nhiều nhà văn sống như thể quanh mình luôn có độc giả đang đứng nhìn. Có câu nói cũng của một nhà văn nghe hơi đau “Ông ấy giờ ít bận viết văn, ông ấy bận đóng vai nhà văn”. Lâu dần, chính họ cũng quen với vai diễn ấy. Có những thi sĩ nổi tiếng hào sảng trong những vần thơ đầy gió bụi giang hồ, nhưng ngoài đời lại mang tiếng… ki bo. Có nhà văn chuyên viết về lòng từ bi nhưng cứ rượu vào là nóng nảy rồ dại. Có người viết văn hài hước nhưng ngoài đời gần như không biết cười. Có người viết tình yêu rất đẹp nhưng hôn nhân tan vỡ nhiều lần. Cũng chẳng phải nghịch lý. Biết đâu chính những điều họ thiếu lại là điều họ khát khao nhất nên mới viết mãi. Người viết về hòa bình là người từng trải qua chiến tranh trong gia đình hay trong chính lòng mình. Người viết về hạnh phúc nhiều khi cả đời đi tìm hạnh phúc mà không thấy. Trong văn học Việt Nam, Nam Cao là một ví dụ điển hình của sự giằng xé giữa thiên chức nghệ thuật và nỗi lo cơm áo. Đọc Chí Phèo, Đời thừa, ta thấy một Nam Cao đau đớn cho kiếp người. Nhưng trong đời thực, ông là một người chồng, người cha phải vất vả chật vật với những áp lực kinh tế thời bấy giờ. Những người quen biết ông kể lại rằng, có những khi ông phải gác lại những dự định văn chương cao cả để đi dạy học, xoay xở từng bữa ăn cho gia đình. Hay hãy nhớ về Xuân Diệu "ông hoàng thơ tình". Người ta mê mẩn những câu thơ như “Yêu là chết ở trong lòng một ít”. Thế nhưng, giai thoại về ông lại đầy những chi tiết “đời” đến lạ. Những người bạn văn thường kể về một Xuân Diệu rất tỉ mỉ, đôi khi kỹ tính đến cực đoan trong những sinh hoạt thường nhật, một Xuân Diệu rất sợ cô đơn đến mức có những đòi hỏi mang tính cá nhân rất cao trong các mối quan hệ bạn bè. Những “mặt trái” đó không làm thơ ông bớt hay. Từng nghe một nhà văn già nói vui: “Đừng lấy tác giả làm chú thích cho tác phẩm”. Một bài thơ hay không phải vì tác giả sống hoàn hảo. Cũng như một bác sĩ tim giỏi vẫn có thể chết vì bệnh tim. Năng lực nghề nghiệp và phẩm hạnh cá nhân có liên quan nhưng không bao giờ trùng khít. Dĩ nhiên cũng có những trường hợp một người dùng văn chương để cổ súy điều thiện nhưng ngoài đời phạm những điều không thể chấp nhận, độc giả có quyền thất vọng. Nhưng thất vọng cũng không nên biến thành phủ nhận sạch trơn. Trong lịch sử văn học thế giới, không ít kiệt tác được viết bởi những con người đầy mâu thuẫn. Có người ích kỷ, người bạc tình, người nghiện ngập, người độc đoán. Có người sống rất tệ với người thân. Nếu chỉ giữ lại tác phẩm của những người hoàn hảo thì có lẽ thư viện nhân loại sẽ cạn đi rất nhiều. Trong đời sống văn nghệ Việt Nam, những câu chuyện hậu trường luôn được truyền miệng với tốc độ còn nhanh hơn một bài phê bình. Nhà thơ nọ keo. Nhà văn kia thích được tâng bốc. Nhà nghiên cứu này hay dỗi. Nhà phê bình kia rất mê… ăn. Có người lên diễn đàn hùng hồn nhưng về nhà sợ vợ. Có người ngoài mặt khiêm tốn nhưng tối về đếm từng lời khen trên báo. Những giai thoại ấy tồn tại dai dẳng vì chúng làm thần tượng... giống người hơn. Chỉ tiếc nhiều người nghe lại chỉ nhớ giai thoại mà quên mất tác phẩm. Họ bắt đầu khoái cái cảm giác “hạ bệ”, nôm na là “tưởng thế nào chứ, còn kém cả mình”. Một nhà văn nổi danh từng tâm sự rằng điều khiến ông mệt nhất không phải viết, mà là phải giữ hình tượng. “Có hôm tôi chỉ muốn ra đường ngồi ăn bún, xem bóng đá và nói chuyện suồng sã với bất cứ ai”. Có lẽ những người chịu áp lực lớn nhất lại chính là vợ hoặc chồng của văn nghệ sĩ. Độc giả nhìn thấy nhà thơ với ánh trăng. Người bạn đời nhìn thấy ông ấy ngáy. Độc giả thấy nhà văn viết về sự thủy chung. Người vợ nhớ những lần chồng quên ngày cưới. Người vợ biết những lúc nhà văn xao động vì bóng hình khác. Độc giả thấy người nghệ sĩ bay bổng, vợ thấy chồng ngồi tính hóa đơn điện nước. Cũng mặc cả ngoài chợ. Cũng quên cũng ngớ ngẩn. Cũng cãi nhau vì chuyện rất nhỏ. Ngày nay, mạng xã hội khiến khoảng cách ấy càng ngắn. Trước đây, độc giả chỉ gặp nhà văn qua sách. Bây giờ họ thấy luôn bữa sáng, chuyến du lịch, trạng thái bực bội, bình luận nóng nảy. Những điều trước kia chỉ gia đình người thân biết thì nay cả nghìn người biết. Có người cho rằng đó là thử thách, nhưng cũng có thể là cơ hội. Bởi thời đại này bắt đầu không còn quá tin vào những bức tượng hoàn mỹ. Người ta thích sự chân thật đời thường hơn. Thế là nhà văn hay nhà thơ lại phải nghĩ đến việc quản lý hình ảnh trong một thế giới ngập tràn hình ảnh. Một chiếc mặt nạ, dù đẹp đến đâu, cũng nặng. Tôi nhớ một câu chuyện nhỏ. Một nhà thơ nổi tiếng sau buổi giao lưu bị một sinh viên hỏi: “Thầy có đúng như trong thơ không?”. Ông cười “May mà không”. Câu trả lời duyên, cả hội trường cười theo. Nhưng rồi ông nói tiếp: “Nếu tôi sống được như thơ mình viết thì chắc chẳng cần viết thơ nữa. Lúc đó tôi là tập thơ di động rồi”. Văn chương không phải bản báo cáo thành tích của tâm hồn. Nó là khát vọng, là sự hướng thượng. Và như vậy, có lẽ đã đủ. Điều kỳ diệu của văn chương không phải là biến nhà văn thành thánh. Hãy để họ được quyền là một con người bình thường, với đủ những vụng về, nhỏ nhen, hài hước và đáng thương như bất cứ ai. Sức sống lâu bền của tác phẩm vượt lên trên chính những bất toàn của người đã tạo ra nó. Tác phẩm có thể thấu thị thế giới, thanh cao, thoát tục nhưng khi bước ra khỏi trang sách, những người đẻ ra tác phẩm ấy vẫn bằng xương bằng thịt với những hỉ, nộ, ái, ố tầm thường. Trên thế giới, không thiếu những tác giả vĩ đại chọn cách tự “bóc trần” mình, không đợi đến khi người đời khám phá. Trong mắt công chúng, Ernest Hemingway là một người đàn ông biểu tượng cho sự nam tính, dũng cảm, một thợ săn, một người đi biển, một chiến binh. Nhưng thông qua những hồi ký và nghiên cứu sau này, chúng ta thấy một Hemingway đầy rẫy những bất ổn tâm lý, những thất bại trong đời sống hôn nhân và cả những cơn trầm cảm dai dẳng. Việc ông “lật chăn” chính cuộc đời mình qua các tác phẩm (như Hội hè miên man) đã cho chúng ta thấy một Hemingway rất “người”, rất mong manh – một người vĩ đại không phải vì không có sợ hãi, mà vì ông đã viết ngay trên nỗi sợ của chính mình. Đừng sợ vỡ mộng khi ta biết những bí mật đời thường của một tác giả. Sự vỡ mộng ấy, suy cho cùng, chỉ là một quá trình "trưởng thành" trong cách tiếp nhận văn hóa. Khi ta bắt đầu chấp nhận được những góc khuất của một nhà văn, ta cũng là lúc ta bắt đầu biết bao dung hơn với những khiếm khuyết của con người nói chung. Cuộc sống muôn mặt, văn chương muôn hình. Và sau tất cả, cái còn lại không phải là những bức tượng đài bằng đá lạnh lẽo, mà là những câu chuyện về con người, bằng xương bằng thịt, với tất cả sự huy hoàng và vụn vỡ mà họ đã sống, đã viết, và đã yêu. n 11-12/7/2026 www.tienphong.vn 12 SÁNG TÁC MINH HỌA: VŨ XUÂN TIẾN Tạp văn của LƯU LINH HƯƠNG

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==