5 XÃ HỘI n Thứ Năm n Ngày 9/7/2026 Người lính ra đi với lời hẹn ngày chiến thắng sẽ trở về cưới người mình yêu. Ông nằm lại chiến trường sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Còn bà Nguyễn Thị Lệ vẫn giữ trọn lời hứa “Em sẽ đợi anh về”, dành gần sáu thập niên chờ đợi và lặng lẽ làm dâu nhà người mình yêu, để rồi chỉ có thể gặp lại ông khi hài cốt được tìm thấy sau 58 năm. Với bà Nguyễn Thị Lệ, lời hứa ấy bắt đầu vào một buổi chiều cuối năm 1967, khi chàng chiến sĩ Huỳnh Văn Quên nhận lệnh rời Long An, hành quân vào nội đô Sài Gòn chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Dưới bóng dừa nơi hai người thường gặp nhau, người lính trẻ nắm lấy tay người con gái mình thương. Ông không có nhẫn cưới, không sính lễ, càng không biết chuyến đi ấy có ngày trở lại hay không. Điều duy nhất ông có thể trao cho người yêu là một lời hẹn: “Anh đánh thắng trận này rồi anh về cưới em”. Người con gái tuổi đôi mươi không khóc, cũng không giữ người mình yêu ở lại. Bà chỉ mỉm cười, khẽ gật đầu: “Em sẽ đợi anh về”. Không ai biết rằng, cuộc chia tay ngắn ngủi dưới bóng dừa năm ấy lại trở thành điểm khởi đầu của hành trình chờ đợi kéo dài suốt 58 năm. THANH XUÂN GỬI LẠI CHIẾN TRƯỜNG Những năm kháng chiến, bà Lệ là dân công, ngày ngày gánh nước, tiếp tế lương thực, chăm sóc thương bệnh binh cho đơn vị của ông Quên. Tình yêu của họ không bắt đầu bằng những buổi hẹn hò lãng mạn. Nó lớn lên giữa tiếng bom, từ những lần bà lặng lẽ vá chiếc áo đã sờn vai cho người lính trẻ, từ những ánh mắt vội vàng trong những lần đơn vị dừng chân, rồi được nuôi lớn bằng những cánh thư vượt qua chiến tuyến. Ông Quên không phải là người nói nhiều. Điều ông gửi về nhiều nhất là sự quan tâm dành cho cô gái ở hậu phương. Có lần thư từ thất lạc vì chiến sự, ông chỉ viết vỏn vẹn hai câu thơ: “Thư về mong đợi thư lên/Thư lên đừng lạc, anh chờ nha thư”. Hai câu thơ ấy, bà Lệ thuộc lòng đến tận hôm nay. Có những đêm nhớ quay quắt người yêu, bà nhờ người khác đọc đi đọc lại từng lá thư dưới ánh đèn dầu leo lét. Không biết chữ, bà lặng lẽ tập viết. Hết trang giấy này đến trang giấy khác, bà chỉ viết duy nhất một cái tên: “Quên”. Người yêu tên Quên, nhưng bà viết để mà nhớ. Rồi những cánh thư thưa dần. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, thư không còn gửi về nữa nhưng bà Lệ vẫn đợi. Mỗi lần nghe tin có chiến sĩ từ chiến trường nội đô trở về, bà lại chạy đi hỏi. Mỗi lần thấy bóng áo lính thấp thoáng cuối con đường, trái tim người con gái như thắt lại vì hy vọng. Nhưng bà chờ mãi vẫn không thấy người mình thương trở về. CHƯA CƯỚI MỘT NGÀY, LÀM DÂU GẦN NỬA THẾ KỶ Năm 1977, gia đình ông Quên nhận được giấy báo tử. Đó là khoảnh khắc khiến cả gia đình lặng đi nhưng bà Lệ vẫn chưa thể tin. Trên tờ giấy báo tử, tên ông được ghi thành “Huỳnh Văn Quyên”. Chỉ khác một chữ cái nhưng với bà, đó là lý do để tiếp tục nuôi hy vọng rằng biết đâu người mình yêu vẫn còn sống ở đâu đó. Năm tháng lặng lẽ trôi qua. Người con gái tuổi đôi mươi năm nào dần bước qua tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi... Không ít người đến ngỏ lời nhưng bà đều từ chối: “Tôi hứa với ai thì chỉ một người”. Đó không phải là lời nói bộc phát mà là lựa chọn bà giữ suốt gần cả cuộc đời. Ít lâu sau khi biết tin ông Quên hy sinh, bà tìm đến nhà cha mẹ ông. Đứng trước mẹ của người mình yêu, bà khóc rất lâu rồi xin được nhận làm con dâu để thay ông chăm sóc cha mẹ. Người mẹ già cũng bật khóc. Bà trao cho cô gái đôi bông tai và chiếc nhẫn vàng, coi như món quà cưới thay cho người con trai đã mãi mãi nằm lại chiến trường. Không có lễ cưới, không có giấy đăng ký kết hôn nhưng từ ngày ấy, bà Lệ trở thành con dâu nhà họ Huỳnh. Suốt gần nửa thế kỷ, bà đều trở về lo giỗ chạp, chăm sóc cha mẹ liệt sĩ đến cuối đời, cùng anh em trong nhà gìn giữ hương khói cho ông Quên. Người trong gia đình chưa bao giờ xem bà là người ngoài. Với họ, bà mãi là con dâu, chị dâu. THẮP LÊN NIỀM HY VỌNG SAU 58 NĂM Đầu tháng 7, trong quá trình khai quật rãnh mộ tập thể tại Công viên Lê Thị Riêng, lực lượng chức năng quy tập được 11 bộ hài cốt cùng nhiều di vật của các chiến sĩ hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Qua các tài liệu, hiện vật và hồ sơ đối chiếu bước đầu, một trong những danh tính được xác định có liên quan đến liệt sĩ Huỳnh Văn Quên. Chiều hôm ấy, bà Lệ nhờ người thân đưa sang nhà ông Huỳnh Văn Nhỏ. Từ sáng sớm, người phụ nữ gần như chưa hết bàng hoàng sau cuộc điện thoại báo tin: “Chị Hai ơi, có tin về anh Quên rồi...”. Ông Nhỏ cho biết vừa đọc được thông tin lực lượng khai quật thuộc Bộ Tư lệnh TPHCM tìm thấy hài cốt cùng di vật của một liệt sĩ mang tên Huỳnh Văn Quên tại Công viên Lê Thị Riêng. Những thông tin về tên tuổi, đơn vị và thời điểm hy sinh đều trùng khớp với người anh mà gia đình đã mòn mỏi tìm kiếm suốt gần 60 năm. Nghe tin, bà Lệ lặng đi. Cuộc gọi ấy đã thắp lên niềm hy vọng lớn nhất: người chiến sĩ năm xưa có thể sắp được trở về với gia đình. Trước bàn thờ người lính năm xưa, đôi bàn tay hằn sâu dấu vết thời gian run run nâng tấm Bằng Tổ quốc ghi công. Những ngón tay gầy guộc chậm rãi vuốt lên từng con chữ ghi tên ông. Bà Lệ đứng lặng rất lâu. Trong làn khói hương bảng lảng, người phụ nữ tóc đã bạc trắng cúi đầu thật thấp. Giọng bà nhỏ đến mức gần như hòa vào tiếng nấc: “Tui chịu cưới rồi..., ông về nghen”. Lời đáp ấy đến sau 58 năm. Người lính năm xưa không thể nghe thấy. Nhưng có lẽ, đó là lời hồi đáp đẹp nhất cho lời hẹn dưới bóng dừa năm nào. Cuộc chiến khốc liệt đã lấy đi cuộc sống của người lính, lấy đi tuổi thanh xuân của người con gái nhưng bom đạn và thời gian không thể lấy đi tình yêu, sự thủy chung và lời hứa được bà Lệ gìn giữ suốt cuộc đời. NGUYỄN TIẾN “Anh đánh thắng trận này, anh sẽ về cưới em” là lời hứa cuối cùng của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên. Gần sáu thập niên sau, bà Nguyễn Thị Lệ vẫn giữ trọn lời hẹn năm nào, bật khóc khi hay tin hài cốt người mình yêu cuối cùng cũng có thể được tìm thấy. “Đánh thắng trận này anh sẽ về cưới em” Không có lễ cưới, không có giấy đăng ký kết hôn nhưng từ ngày ấy, bà Lệ trở thành con dâu nhà họ Huỳnh. Suốt gần nửa thế kỷ, bà đều trở về lo giỗ chạp, chăm sóc cha mẹ liệt sĩ đến cuối đời, cùng anh em trong nhà gìn giữ hương khói cho ông Quên. Dù chưa một lần cưới hỏi, bà Nguyễn Thị Lệ (bên trái) vẫn được gia đình liệt sĩ Huỳnh Văn Quên luôn xem như con dâu ẢNH: NGUYỄN TIẾN đơn vị hành chính độc lập mà được chia thành các phường, xã. “Mất tên gọi cũng là mất thương hiệu vốn có của các đô thị. Các đô thị bị chia nhỏ thành phường, xã thì liệu các phường, xã có giữ được vai trò động lực phát triển như các đô thị hay không? Đó là câu hỏi cần được giải quyết trong mô hình quản trị mới”, ông Cương đặt vấn đề. Vì thế, theo TS. Võ Kim Cương, cần phân biệt rõ giữa đơn vị hành chính và thực thể kinh tế - xã hội của đô thị. Ông cho rằng, chính quyền là công cụ quản lý của Nhà nước, trong khi đô thị là đối tượng quản lý - một thực thể kinh tế, xã hội tồn tại khách quan với cấu trúc không gian, hệ thống hạ tầng và các quan hệ kinh tế đặc thù. “Tên gọi của cấp chính quyền thường gắn với tên đô thị nhưng cấp chính quyền và đô thị là hai khái niệm khác nhau. Đô thị vẫn tồn tại như một thực thể kinh tế - xã hội ngay cả khi không còn là đơn vị hành chính”, ông Cương nói. Theo ông Cương, trên thế giới tồn tại hai mô hình phát triển quốc gia. Một là tập trung nguồn lực vào các đô thị lớn để tạo cực tăng trưởng; hai là phát triển dàn trải giữa đô thị và nông thôn. Trong điều kiện Việt Nam đang đẩy mạnh đô thị hóa, việc khai thác sức mạnh của các đô thị lớn vẫn là hướng đi phù hợp hơn. “Đô thị luôn là động lực phát triển của địa phương và của cả quốc gia. Đô thị càng lớn thì động lực phát triển càng mạnh”, ông nhận định. TS Cương cũng cho rằng, nếu chỉ quản lý theo ranh giới hành chính của từng phường, xã mà bỏ qua vai trò của đô thị như một chỉnh thể thống nhất sẽ dẫn đến xu hướng phát triển dàn trải, làm suy giảm khả năng khai thác nguồn lực. Ông Cương lý giải, sức mạnh của đô thị đến từ bốn yếu tố gồm sự tập trung dân cư và các hoạt động kinh tế; nguồn nhân lực có năng suất lao động cao; cấu trúc không gian đồng bộ; và khả năng được quản lý như một hệ thống thống nhất. “Đô thị giống như một cơ thể sống. Nếu chia cắt thành nhiều đơn vị nhỏ thì rất khó bảo đảm tính đồng bộ trong quy hoạch, đầu tư hạ tầng và phát triển dịch vụ”, ông nói. Từ đó, TS. Cương cho rằng, việc nghiên cứu mô hình “thành phố trong thành phố” là hướng đi đáng cân nhắc, bởi mô hình này có thể vừa đáp ứng yêu cầu của chính quyền địa phương hai cấp, vừa bảo đảm các đô thị lớn tiếp tục được quản lý như những cực phát triển độc lập. HỮU HUY - NGÔ TÙNG LIỆT SĨ HUỲNH VĂN QUÊN: Đảng ủy UBND TPHCM đã kiến nghị Trung ương cho phép thí điểm thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cấp cơ sở thay thế mô hình cấp xã tại một số khu vực phù hợp, theo hướng tổ chức quản lý kiểu “thành phố trong thành phố”. Theo đó, các đơn vị này vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở cấp cơ sở, vừa được trao cơ chế vận hành linh hoạt về kinh tế - đô thị, với mức độ phân cấp, phân quyền mạnh hơn, thể chế vượt trội và tính tự chủ cao.
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==