Báo Tiền Phong số 182

4 n Thứ Tư n Ngày 1/7/2026 XÃ HỘI KHỞI NGUỒN HÀNH TRÌNH LỊCH SỬ Theo PGS.TS Võ Văn Lộc, tháng 2/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đặt chân lên mảnh đất Sài Gòn, mở đầu cho quãng đời mang ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Nơi đầu tiên Người tìm đến là vựa chiếu của ông Lê Văn Đạt ở xóm cầu Rạch Bần. Sau đó, Người tạm trú tại Liên Thành thương quán ở Chợ Lớn, rồi qua nhiều địa điểm khác như nhà ông Trương Cao Nho, nhà ông Chín Bình... Chính trên mảnh đất này, Người đã đón cái Tết cuối cùng bên thân phụ Nguyễn Sinh Sắc trước khi bước vào cuộc chia ly kéo dài gần ba thập niên. Khoảng thời gian sống ở Sài Gòn cũng là lúc người thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành trực tiếp chứng kiến những mảng đối lập gay gắt của xã hội thuộc địa. Đó là hình ảnh người phu xe còm lưng kéo xe giữa nắng gắt; những người phụ nữ bản xứ bị lính gác chợ đánh đập; phu khuân vác, dân nghèo lam lũ ở bến cảng Sài Gòn sống trong cảnh cơ cực… Nhưng cũng chính nơi đây, Người cảm nhận được bầu không khí yêu nước đang âm ỉ cháy với các phong trào Đông Du, Duy Tân, những cuộc gặp gỡ của các sĩ phu yêu nước và tinh thần quật cường rất riêng của vùng đất Nam Bộ. Những điều mắt thấy tai nghe ấy càng thôi thúc người thanh niên yêu nước lựa chọn một con đường khác với các bậc tiền bối. Không cầu viện một quốc gia nào, Người quyết định tự mình đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Ngày 5/6/1911, con tàu Amiral Latouche Tréville rời Bến Nhà Rồng, mang theo người phụ bếp Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình lịch sử, mang theo hoài bão giải phóng dân tộc. Theo PGS.TS Võ Văn Lộc, chính các nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng từng nhận định: nếu Sài Gòn không phải là chỗ gợi ý, thì cũng là nơi định đoạt dứt khoát thái độ của Bác. TỪ PHƯƠNG TRỜI XA VẪN HƯỚNG VỀ SÀI GÒN Qua thống kê của PGS.TS Võ Văn Lộc, trong khoảng 2.000 bài viết của Bác có gần 90 bài nhắc trực tiếp đến Sài Gòn. Đó không chỉ là những dòng thông tin đơn thuần mà còn là sự quan tâm sát sao đến từng biến động chính trị, kinh tế và đời sống của người dân lúc bấy giờ. Trên báo L'Humanité, báo Le Paria hay trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Người nhiều lần lên án những chính sách cai trị hà khắc của thực dân tại Sài Gòn. Bác phê phán việc bắt bớ, đàn áp người bản xứ, sự bất công trong bộ máy cai trị cũng như những khoản chi tiêu xa hoa dành cho tầng lớp thống trị trong khi người dân phải chịu đói nghèo. Người đặc biệt đau xót trước cảnh người dân bị đánh đập chỉ vì đứng trước cửa khách sạn xem chiếu bóng, hay những thanh niên bị bắt đưa đi lính phục vụ cho "mẫu quốc". Bác cũng không bỏ qua những vụ đàn áp các nhà báo, các nhà hoạt động yêu nước, những cuộc xét xử bất công hay sự kiểm duyệt gắt gao đối với báo chí ở Sài Gòn. Đáng chú ý là cùng với việc tố cáo chế độ thực dân, Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn. Từ cuộc đình công của 200 culi Chợ Lớn năm 1921, cuộc bãi công vì bị bớt lương của 600 thợ nhuộm năm 1922 cho đến sự kiện lịch sử hơn 1.000 công nhân xưởng Ba Son nhất loạt bãi công dưới sự lãnh đạo của Công hội Sài Gòn - Chợ Lớn vào tháng 8/1925 để cản bước tàu chiến Pháp sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Người xúc động nghẹn ngào trước tinh thần kiên cường của hơn 500 học sinh trường ChasseloupLaubat bị đuổi học vì dám viết dòng chữ đả đảo thực dân Pháp trong lễ tang nhà chí sĩ Phan Châu Trinh năm 1926… Tất cả đều được Người ghi nhận trong các báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quốc tế. Theo PGS.TS Võ Văn Lộc, qua từng bài viết có thể thấy Bác không chỉ theo dõi mà còn đặt nhiều kỳ vọng vào sức mạnh cách mạng của Sài Gòn. Người xem đây là một trong những trung tâm quan trọng của phong trào yêu nước, nơi tinh thần đấu tranh luôn bừng cháy. Năm 1941, khi trở về Pác Bó trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Sài Gòn vẫn luôn nằm trong tầm nhìn chiến lược của Người. Dù điều kiện liên lạc còn rất khó khăn, mọi diễn biến tại đô thị lớn nhất Nam Bộ vẫn được Bác đặc biệt quan tâm. DI NGUYỆN SẮT SON CUỐI ĐỜI Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Sài Gòn tiếp tục là nỗi đau đáu khôn nguôi và là niềm tự hào lớn lao trong lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay trong ngày đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), khi thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, Bác liên tục gửi thư, công hàm đến các nguyên thủ quốc gia trên thế giới để tố cáo hành động bội ước, xâm lược phi nghĩa của người Pháp tại Sài Gòn và kêu gọi chấm dứt đổ máu. Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, Người luôn dành những lời ngợi khen, động viên kịp thời và ấm áp nhất tới các chiến sĩ cảm tử quân hoạt động ngay trong lòng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Người ký sắc lệnh tặng thưởng huân chương cho các tổ chức công đoàn kiên trung, khẳng định thông điệp đanh thép rằng Nam Bắc một nhà và Sài Gòn luôn phối hợp nhịp nhàng với chiến trường toàn quốc để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội năm châu. Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt. Miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, trở thành nơi Bác luôn dõi theo. Qua các bài viết đăng trên Báo Nhân Dân, Người nhiều lần phản ánh tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, tham nhũng và bất công trong xã hội miền Nam. Bác đau xót trước cảnh người dân phải gánh chịu hậu quả của xung đột, những cuộc đàn áp, bắt bớ và khủng bố. Song song với đó là những lời kêu gọi tha thiết về đoàn kết dân tộc. Bác tin tưởng đồng bào miền Nam giữ vững truyền thống yêu nước, đoàn kết để đấu tranh vì độc lập và thống nhất đất nước. Những năm tháng chống Mỹ ác liệt, Người vẫn theo dõi từng chuyển biến của chiến trường Sài Gòn. Mỗi chiến thắng của quân dân miền Nam đều được Bác gửi điện khen ngợi, động viên. Trong các cuộc gặp đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, Bác thường nhắc đến những kỷ niệm ở Sài Gòn, nhớ món cơm tấm, tép rang, tôm kho tàu và nhớ những người dân nghèo mà Người từng gặp. Có lần, tiếp nữ anh hùng Tạ Thị Kiều, Bác xúc động nói: “Bác nhớ miền Nam, nhớ Sài Gòn lắm. Bác mong miền Nam mau giải phóng để Bác vô thăm”. Đó cũng là ước nguyện lớn nhất mà Người không thực hiện được. Trong Di chúc, Bác bày tỏ mong muốn sau ngày đất nước thống nhất sẽ đi khắp hai miền Nam - Bắc để thăm đồng bào, cán bộ, chiến sĩ. Nếu qua đời trước ngày thống nhất, Người mong gửi một phần tro cốt cho đồng bào miền Nam. Bác chưa một lần trở lại Sài Gòn sau ngày ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng từ ngày rời Bến Nhà Rồng vào năm 1911 đến lúc đi xa năm 1969, Sài Gòn luôn trong trái tim Người. Và hôm nay, thành phố mang tên Bác vẫn tiếp tục viết tiếp khát vọng phát triển để xứng đáng là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị tiêu biểu nhất của cả nước, xứng đáng với tình yêu, niềm tin và sự dõi theo mà Người đã dành trọn cho vùng đất này. UYÊN PHƯƠNG Bến Nhà Rồng đầu thế kỷ XX, nơi Bác ra đi tìm đường cứu nước ẢNH: TƯ LIỆU TPHCM hôm nay ẢNH: HUY THỊNH Thành phố Sài Gòn – nơi khởi nguồn cho hành trình tìm đường cứu nước cũng là mảnh đất neo đậu tình cảm sắt son của Bác trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Từ nhiều nguồn sử liệu, PGS.TS Võ Văn Lộc – Giảng viên trường Đại học Sài Gòn tái hiện hành trình, tình cảm và di nguyện thiêng liêng cuối đời của Người dành cho mảnh đất phương Nam ruột thịt. Từ Sài Gòn - Gia Định đến Thành phố Hồ Chí Minh Bác chưa một lần trở lại Sài Gòn sau ngày ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng, từ ngày rời Bến Nhà Rồng vào năm 1911 cho đến lúc đi xa vào năm 1969, tình cảm dành cho Sài Gòn chưa bao giờ nguôi ngoai trong trái tim Người. 50 NĂM THÀNH PHỐ MANG TÊN BÁC Ngày 30/4/1975, chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh đã giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước, hoàn thành khát vọng mà cả cuộc đời Bác theo đuổi. Chỉ vài tháng sau, Sài Gòn chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo PGS.TS Võ Văn Lộc, đó không chỉ là sự kiện lịch sử mà còn là cuộc hội ngộ đầy ý nghĩa giữa vị lãnh tụ kính yêu với mảnh đất đã tiễn Người ra đi tìm đường cứu nước hơn sáu thập niên trước.

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==