9 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Ba n Ngày 9/6/2026 gọi nhà cổ Cầu Kè), tại xã Cầu Kè (huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh cũ). Ngôi nhà được khởi công xây dựng năm 1920, hoàn thành năm 1924, theo bản thiết kế của kiến trúc sư người Pháp. Ngôi nhà chính hình chữ nhật theo hướng Bắc - Nam, dài 20m, rộng 18m, bó vỉa nền bằng đá xanh ken nhau dạng nền “kim quy”. Nền nhà lót gạch bông với nhiều loại hoa văn khác nhau, mái nhà lợp ngói vẩy cá. Ngoài ngôi nhà chính còn có nhà sau, nhà kho, rào cổng. Sảnh đón khách nằm ngay giữa ngôi nhà được xây dựng nhô ra phía trước. Trên các đầu cột đều gắn phù điêu; trần, vách tường trang trí các tranh vẽ đề tài đề tài ngư, tiều, độc, mục, cảnh núi sông, nhà cửa, ghe thuyền... Nhà cổ Huỳnh Kỳ có 5 gian chia làm hai phần trước và sau kiểu “ngoại khách nội hưu” (bên ngoài phòng khách, bên trong phòng nghỉ). Đặc biệt, trần của ngôi nhà không làm bằng bê tông cốt thép, thợ sử dụng gỗ làm khung sườn rồi dùng lưới kẽm mắc vào khung gỗ và đắp vào một hỗn hợp vôi - vữa để tạo mái. Nhà sau nằm song song với ngôi nhà chính, hai nhà thông nhau bằng đường dẫn có mái che. Trên các đầu cột đường dẫn đều được trang trí phù điêu. Bên trái là dãy nhà kho quay mặt vào ngôi nhà chính. Cuối dãy nhà kho bên trái nhà sau có Tây lầu để vọng cảnh. Ngôi nhà có đường nét cổ kính, vật liệu, phong cách trang trí tiêu biểu cho kiến trúc Pháp đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, phần lớn tiện nghi trong nhà cũng như cách bố trí và đề tài một số tranh vẽ như ngư, tiều, độc, mục, làng quê đều mang phong cách thuần Việt. Nhà cổ Huỳnh Kỳ được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2011. Đây cũng là một trong số ít nhà cổ được bảo tồn khá tốt của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả có được khi năm 2018, UBND tỉnh Trà Vinh giao cho một đơn vị tư nhân tiếp quản và đầu tư tu bổ, tôn tạo để khai thác, phát triển du lịch. Trong đó, phần khuôn viên căn nhà được kết hợp làm quán cà phê, cùng với một khách sạn được dựng lên phía sau nhà cổ. Mô hình tư nhân quản lý khai thác nhà cổ Huỳnh Kỳ từng được kỳ vọng giúp di sản tự nuôi sống chính mình. Thế nhưng, thực tế không như vậy, lượng khách du lịch đến với di tích khá vắng. Theo lãnh đạo xã Cầu Kè (tỉnh Vĩnh Long), nhà cổ Huỳnh Kỳ là điểm nhấn khi khách du lịch về địa phương, cùng với Khu tưởng niệm nữ Anh hùng Nguyễn Thị Út (Út Tịch), các vườn dừa sáp. Tuy nhiên, lượng khách tới nhà cổ Huỳnh Kỳ rất khiêm tốn, chỉ dịp lễ, Tết có vài đoàn khách tới. Một nhân viên tại nhà cổ này cho hay, khách Việt thường không thích mua vé tham quan, nên khách tới đa phần là người nước ngoài, nhưng cũng chủ yếu vào dịp cuối và đầu năm (mùa đông ở phương Tây). Dù vậy, khi cao điểm bình quân cũng chỉ khoảng chục khách mỗi ngày. Theo ghi nhận của PV tại nhà cổ Huỳnh Kỳ, ngoại trừ ngôi nhà chính còn tốt, dãy nhà kho đã xuất hiện những dấu hiệu xuống cấp. Quán cà phê cũng đìu hiu do người dân vẫn thích ngồi vỉa hè hơn là vào không gian của di tích. Ngôi nhà vẫn sừng sững cùng thời gian, nhưng dường như thiếu những "câu chuyện" văn hóa, chuyện của gia chủ, thiếu cái hồn để hấp dẫn du khách. Thực tế này khiến hiệu quả bảo tồn và phát huy di tích chưa tương xứng với giá trị kiến trúc, nghệ thuật của công trình thế kỷ. (còn nữa) HÒA HỘI - CẢNH KỲ là xu hướng từng xuất hiện ở Thái Lan, Indonesia và cả Hàn Quốc. Vấn đề nằm ở chỗ các nhà làm phim đang tìm đến cùng một kiểu xung đột. Khán giả liên tục bắt gặp những lời nguyền từ quá khứ, bí mật gia tộc, nghi lễ bị phá vỡ và sự trở lại của một thế lực siêu nhiên để đòi nợ. Nếu thay tên con ma hoặc đổi địa điểm từ miền Tây lên vùng cao, cấu trúc câu chuyện vẫn gần như giữ nguyên. Có thể nói điện ảnh Việt đã tìm được nguồn nguyên liệu nhưng chưa thực sự mở rộng được cách kể. Folklore (văn hóa dân gian) chỉ là điểm khởi đầu. Thứ quyết định sức sống của thể loại kinh dị vẫn là khả năng phản ánh những nỗi sợ mới của xã hội đương đại”, nhà phê bình điện ảnh Thảo Đan nhận định. Không thể phủ nhận, trong bối cảnh thị trường điện ảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, folklore trở thành lựa chọn hấp dẫn vì mang lại nhiều lợi thế cùng lúc. Những khái niệm như ma da, quỷ nhập tràng, chó đội nón mê, ma cà rồng hay các câu chuyện truyền miệng ở làng quê vốn đã tồn tại trong ký ức tập thể từ nhiều thế hệ. Khán giả bởi vậy không cần mất thời gian làm quen với thế giới phim. Chỉ cần nghe tên, họ đã có thể hình dung phần nào nỗi sợ mà bộ phim muốn tạo ra. Thêm nữa, folklore giúp phim Việt tạo khác biệt trên thị trường khu vực. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều chiến dịch quảng bá gần đây đều nhấn mạnh yếu tố “truyền thuyết Việt Nam”, “văn hóa Việt Nam” hay “nỗi sợ của người Việt”. Và lý do quan trọng nhất khiến nhiều đạo diễn chọn chất liệu folklore, theo nhà sản xuất Vũ Minh Quân, là do hiệu quả doanh thu của những bộ phim đi trước. Đây là căn cứ để các nhà đầu tư có thêm niềm tin rằng kinh dị dân gian là một hướng đi khả thi. PHIM KINH DỊ VIỆT CẦN NHỮNG NỖI SỢ MỚI Việt Nam không phải quốc gia duy nhất trải qua giai đoạn bùng nổ kinh dị dân gian. Thái Lan từng có thời kỳ gần như mọi bộ phim kinh dị đều xoay quanh ma nữ, chùa chiền, lời nguyền hoặc các truyền thuyết địa phương. Hàn Quốc cũng từng khai thác mạnh các yếu tố shaman giáo, tín ngưỡng dân gian và những truyền thuyết bản địa trong nhiều tác phẩm kinh dị. Nhật Bản nổi tiếng toàn cầu với những hồn ma tóc dài trong Ring, Juon hay Dark water. Nhưng sau khi hình thành được thị trường, các nền điện ảnh này bắt đầu mở rộng biên độ sáng tạo. Điện ảnh Thái Lan đã tiến sang kinh dị hài, kinh dị xã hội và thậm chí kết hợp kinh dị với các vấn đề chính trị, gia đình hoặc giới trẻ. Hàn Quốc cũng không dừng lại ở những hồn ma hay nghi lễ trừ tà. Các nhà làm phim ngày càng quan tâm tới những nỗi bất an của xã hội hiện đại như bạo lực học đường, áp lực cạnh tranh, sự đổ vỡ gia đình, khủng hoảng tinh thần hay xung đột giai cấp. Còn điện ảnh Nhật liên tục mở rộng sang kinh dị tâm lý, kinh dị công nghệ, kinh dị đô thị và những câu chuyện về sự cô lập của con người trong xã hội hiện đại. “Con ma trong điện ảnh kinh dị thế giới đã dần không còn là nhân vật chính. Nỗi sợ mới là nhân vật chính. Người hiện đại có nhiều nỗi sợ: sợ bị lãng quên, sợ bị cô lập, sợ mất ký ức, sợ bạo lực, sợ xã hội, thậm chí là sợ mất kết nối. Trong khi đó, phần lớn phim kinh dị Việt hiện nay vẫn đang đặt trọng tâm vào thực thể siêu nhiên. Con ma thường là điểm bán hàng đầu tiên của bộ phim”, nhà phê bình Thảo Đan bình luận. Đồng tình với ý kiến này, nhà sản xuất Vũ Minh Quân cho rằng, điện ảnh Việt hiện có rất nhiều con ma nhưng lại chưa có nhiều nỗi sợ mới. Chúng ta vẫn đang kể đi kể lại những câu chuyện về lời nguyền, oan hồn và nghiệp báo. Trong khi đó, đời sống đương đại còn vô số nỗi bất an khác như sự đổ vỡ của gia đình, áp lực mạng xã hội, khủng hoảng tinh thần hay cảm giác cô độc trong đô thị. Đó có thể là những vùng đất tiếp theo mà phim kinh dị Việt cần bước tới nếu muốn đi xa hơn folklore. HẠ ĐAN Theo nhà phê bình Thảo Đan, những bộ phim kinh dị đáng nhớ nhất thế giới hiếm khi được nhớ lâu chỉ vì con ma của chúng. Khán giả nhớ The Shining vì sự đổ vỡ của một gia đình và quá trình một người cha trượt dần vào điên loạn. Khán giả nhớ Get out vì câu chuyện về phân biệt chủng tộc được kể bằng ngôn ngữ kinh dị. Khán giả nhớ Hereditary vì bi kịch gia đình, những tổn thương tâm lý được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nỗi sợ trong các tác phẩm ấy đều đến từ những vấn đề xã hội và tâm lý đương đại. Đây có thể là gợi ý quan trọng cho điện ảnh Việt trong giai đoạn tiếp theo. Khách quốc tế tham quan nhà cổ Huỳnh Thủy Lê Vết xuống cấp bên trong nhà cổ Huỳnh Thủy Lê Khách sạn, quán cà phê trên phần đất nhà sau của di tích nhà cổ Huỳnh Kỳ Nhà cổ Huỳnh Kỳ nhìn từ cổng chính tại Vĩnh Long Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê tại phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Một số phim kinh dị Việt nỗ lực làm khác như Người lắng nghe: Lời thì thầm hay Thẩm mỹ viện âm phủ đều gặp thất bại nặng nề về doanh thu
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==