13 TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG n Thứ Năm n Ngày 4/6/2026 PHÂN HÓA TỪ CƠ CHẾ PHÂN BỔ TÍN DỤNG Kết quả kinh doanh quý I và đầu quý II/2026 cho thấy tăng trưởng tín dụng toàn ngành ở mức khoảng 3,5%, song dòng vốn không phân bổ đồng đều. Nhóm ngân hàng tham gia nhận chuyển giao bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu kém như NCB, VPBank hay HDBank đang dẫn đầu về tăng trưởng tín dụng với mức tăng từ 10% đến gần 20%. Trong khi đó, nhiều ngân hàng tập trung vào mảng bán lẻ chỉ ghi nhận mức tăng từ 0,1% đến hơn 4%. Sự chênh lệch này phản ánh cách thức phân bổ hạn mức tín dụng của NHNN, trong đó các ngân hàng tham gia tái cơ cấu hệ thống được tạo dư địa tăng trưởng lớn hơn. Đây được xem là cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia xử lý ngân hàng yếu kém, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Bên cạnh yếu tố room tín dụng, nhu cầu vay vốn từ khách hàng cá nhân vẫn chưa phục hồi như kỳ vọng. Mặt bằng lãi suất cho vay tiêu dùng hiện phổ biến từ 9-12%/năm, trong khi thu nhập của nhiều hộ gia đình chưa cải thiện mạnh khiến nhu cầu vay mua sắm, sửa chữa nhà ở hay tiêu dùng lớn còn khá thận trọng. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp lại bắt đầu ghi nhận tín hiệu phục hồi, đặc biệt ở các ngành xuất khẩu, logistics, công nghiệp chế biến và hạ tầng. Điều này khiến dòng vốn tín dụng có xu hướng dịch chuyển từ khu vực tiêu dùng sang khu vực sản xuất kinh doanh. ÁP LỰC SIẾT AN TOÀN HỆ THỐNG Từ ngày 1/7, Thông tư 11/2026/TT-NHNN sẽ có hiệu lực với quy định chặt chẽ hơn về điều kiện hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch. Những đơn vị không đáp ứng yêu cầu an toàn hoặc vi phạm pháp luật có thể bị buộc chấm dứt hoạt động. Quy định này đánh dấu bước chuyển từ mô hình mở rộng mạng lưới theo chiều rộng sang chú trọng hiệu quả vận hành. Các ngân hàng phải tính toán kỹ hiệu quả kinh doanh của từng điểm giao dịch thay vì chạy đua mở rộng như trước. Thực tế những năm gần đây cho thấy xu hướng giao dịch số ngày càng lấn át giao dịch tại quầy. Số lượng khách hàng sử dụng ngân hàng số, thanh toán QR, ví điện tử và các dịch vụ trực tuyến liên tục tăng trưởng ở mức hai con số. Điều đó khiến nhiều điểm giao dịch truyền thống không còn duy trì được hiệu quả như trước. Ở lĩnh vực thanh toán, Thông tư 22/2026/TT-NHNN tiếp tục siết chuẩn kỹ thuật, bảo mật và giám sát dòng tiền trong hoạt động trung gian thanh toán. Khi yêu cầu an toàn đối với cả mạng lưới vật lý và hạ tầng số được nâng cao, các ngân hàng buộc phải tăng đầu tư cho công nghệ, quản trị rủi ro và an ninh mạng. Chi phí tuân thủ có thể gia tăng trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạt động, giảm nguy cơ gian lận và củng cố niềm tin của khách hàng đối với hệ thống tài chính. Một thay đổi đáng chú ý là áp lực tìm kiếm nguồn thu mới khi biên lãi ròng (NIM) của nhiều ngân hàng có xu hướng thu hẹp. Trước đây, tăng trưởng tín dụng cao là động lực chính giúp lợi nhuận ngân hàng tăng mạnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, việc cạnh tranh lãi suất cho vay và yêu cầu giảm chi phí vốn khiến dư địa mở rộng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng không còn lớn như trước. Do đó, nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi thông qua dịch vụ thanh toán, bancassurance, quản lý tài sản, ngân hàng số và các giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp. Việc gia tăng tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cũng trở thành mục tiêu quan trọng. CASA cao giúp giảm chi phí vốn đầu vào, tạo điều kiện để ngân hàng giảm lãi suất cho vay nhưng vẫn duy trì hiệu quả kinh doanh. Đây là lý do cuộc đua chuyển đổi số giữa các ngân hàng ngày càng quyết liệt. DÒNG VỐN HƯỚNG VỀ KHU VỰC SẢN XUẤT Trước những thay đổi trong cơ chế điều hành, xu hướng dịch chuyển tín dụng từ các khoản vay tiêu dùng sang tín dụng doanh nghiệp đang ngày càng rõ nét. Nhiều ngân hàng tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn phục vụ sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển hạ tầng. Động lực mới đến từ Nghị định 157/2026/ NĐ-CP về cơ chế cấp bù lãi suất, giúp các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn khi triển khai các chương trình cho vay ưu đãi. Cơ chế này được kỳ vọng sẽ khơi thông dòng vốn vào những lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế, đồng thời giảm áp lực chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Với sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, các ngân hàng có thể mạnh dạn mở rộng tín dụng đối với các dự án có tác động lan tỏa lớn đến tăng trưởng. PV Tái cơ cấu danh mục, tài sản, đón dòng vốn mới Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, mặt bằng lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng vẫn ở mức cao, thậm chí có dấu hiệu tăng trở lại. Hiện nhiều ngân hàng niêm yết lãi suất huy động phổ biến từ 7-8%/năm cho các kỳ hạn trung và dài hạn. Một số chương trình tiền gửi đặc biệt dành cho khách hàng có số dư lớn còn áp dụng mức lãi suất cao hơn đáng kể. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm và các kỳ hạn ngắn cũng tăng mạnh trong những ngày đầu tháng 6, phản ánh nhu cầu vốn của hệ thống ngân hàng đang ở mức cao. Lãi suất đầu vào tăng khiến dư địa giảm lãi suất cho vay trở nên hạn chế. Hiện lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng vẫn dao động phổ biến từ 6-13%/năm tùy theo đối tượng khách hàng và mục đích sử dụng vốn. Đáng chú ý, trong khi lãi suất có xu hướng tăng, tỷ giá USD/VND lại tương đối ổn định. Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và tỷ giá. Theo ông Hiếu, khi lãi suất duy trì ở mức hấp dẫn, dòng vốn có xu hướng ở lại hệ thống ngân hàng, góp phần hỗ trợ giá trị đồng Việt Nam và giảm áp lực lên tỷ giá. Ngược lại, nếu lãi suất giảm quá nhanh, sức hấp dẫn của đồng nội tệ suy giảm, có thể tạo áp lực lên thị trường ngoại hối. “Lãi suất cao đã góp phần giữ cho đồng Việt Nam ổn định so với USD trong thời gian qua. Đây là một trong những yếu tố giúp tỷ giá không biến động quá mạnh dù thị trường quốc tế còn nhiều bất ổn”, ông Hiếu nhận định. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất cao cũng kéo theo hệ lụy không nhỏ. Khi chi phí huy động vốn tăng lên, các ngân hàng khó giảm mạnh lãi suất cho vay. Điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp tiếp tục phải gánh chi phí tài chính lớn trong bối cảnh nhu cầu thị trường phục hồi chưa thực sự vững chắc. Theo các chuyên gia, đây là bài toán cân bằng không dễ đối với cơ quan điều hành. Một mặt cần ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát, mặt khác phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý để thúc đẩy tăng trưởng. KHÓ KỲ VỌNG GIẢM SÂU Đánh giá về triển vọng lãi suất trong những tháng cuối năm, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng chưa có nhiều cơ sở để kỳ vọng mặt bằng lãi suất huy động giảm mạnh. Nguyên nhân quan trọng nhất là tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tốc độ huy động vốn. Khi nhu cầu vay vốn của nền kinh tế gia tăng nhưng nguồn vốn đầu vào không tăng tương ứng, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh để thu hút tiền gửi. “Tăng trưởng tín dụng hiện cao hơn tăng trưởng huy động. Nếu không thu hút được thêm nguồn vốn, các ngân hàng sẽ thiếu nguồn lực để cho vay. Vì vậy, việc duy trì lãi suất huy động ở mức tương đối cao là điều khó tránh khỏi”, ông Hiếu phân tích. Áp lực này có thể còn lớn hơn khi Chính phủ tiếp tục theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong năm 2026. Nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư công và các dự án hạ tầng dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng, kéo theo nhu cầu huy động vốn của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh các yếu tố trong nước, môi trường kinh tế quốc tế vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Những căng thẳng địa chính trị kéo dài, biến động thương mại toàn cầu và nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng có thể đẩy giá dầu và giá hàng hóa tăng trở lại. Khi giá năng lượng leo thang, áp lực lạm phát sẽ gia tăng trên phạm vi toàn cầu. Với độ mở kinh tế lớn, Việt Nam khó tránh khỏi những tác động lan tỏa từ xu hướng này. Đây cũng là lý do cơ quan điều hành cần duy trì sự thận trọng trong chính sách tiền tệ. Theo ông Hiếu, nhiều khả năng NHNN sẽ tiếp tục ưu tiên mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giữ vững tỷ giá. Điều đó đồng nghĩa mặt bằng lãi suất có thể duy trì ở mức tương đối cao trong thời gian tới thay vì giảm sâu như kỳ vọng của nhiều doanh nghiệp. NGỌC MAI Áp lực giữ mặt bằng lãi suất Dù cơ quan quản lý liên tục yêu cầu giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp, mặt bằng lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao. Theo các chuyên gia, áp lực tỷ giá, lạm phát và nhu cầu vốn tăng mạnh khiến khả năng giảm lãi suất trong thời gian tới không dễ xảy ra. Các chính sách điều hành mới của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang làm thay đổi hướng đi của dòng tín dụng, buộc nhiều ngân hàng tăng tốc tái cơ cấu danh mục tài sản và chiến lược kinh doanh. Những thay đổi về chính sách của NHNN được kỳ vọng sẽ khơi thông dòng vốn vào những lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế, đồng thời giảm áp lực cho doanh nghiệp Nhiều chuyên gia nhận định tăng trưởng tín dụng nửa cuối năm sẽ phụ thuộc đáng kể vào khả năng hấp thụ vốn của khu vực doanh nghiệp. Nếu sản xuất, xuất khẩu và đầu tư công tiếp tục khởi sắc, tín dụng có thể tăng tốc mạnh hơn trong các quý cuối năm. Mặt bằng lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng vẫn ở mức cao và có dấu hiệu tăng trở lại
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==