Có lẽ trong tất cả những hình ảnh của trời đất, mây là thứ gần con người nhất mà cũng khó nắm bắt nhất. Núi đứng yên. Sông có bờ bãi. Biển có thủy triều. Chỉ mây là luôn đổi khác. Không ai nhìn thấy hai đám mây giống hệt nhau trong đời mình. Mây sinh ra từ nước, bay bằng gió, tan vào ánh sáng, rồi lại trở về thành mưa. Nó không có hình thù cố định, nhưng lại là thứ khiến trí tưởng tượng con người vận động từ thuở xa xưa. Có lẽ bởi vậy mà từ Đông sang Tây, từ thơ ca bác học đến ca dao dân dã, từ tranh thủy mặc đến dân ca miền núi, mây luôn hiện diện như một hình tượng vừa thực vừa mộng. Nhưng nếu ở nhiều nền văn hóa khác, mây thường gắn với thần thoại hay triết học, thì trong tâm thức Việt Nam, mây trước hết gắn với đời sống. Người Việt nhìn mây không chỉ để mơ mộng, mà còn để sống. Từ hàng ngàn năm trước, người nông dân đã đọc thời tiết qua mây. Mây không chỉ là phong cảnh mà còn là lịch trời. Những câu tục ngữ như: “Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ” hay: “Thâm đông hồng tây, dựng mây thì bão” cho thấy người xưa đã quan sát bầu trời bằng kinh nghiệm tinh tế đến mức nào. Một vệt mây đỏ cuối chân trời, một lớp mây xám bò thấp, một quầng mây đóng quanh đỉnh núi… tất cả đều là tín hiệu. Ở miền biển, ngư dân nhìn mây để đoán gió. Ở miền núi, người đi rừng nhìn mây để biết mưa nguồn. Có những cụ già chỉ cần nhìn màu mây lúc chiều xuống là biết đêm có đổi gió hay không. Mây từng là thứ “khí tượng học dân gian” của người Việt trước khi xuất hiện những bản tin thời tiết hiện đại. Nhưng điều thú vị là ngay cả khi nhìn mây để sống, người Việt vẫn không thôi gửi tâm tình vào mây. Ca dao Việt Nam đầy mây. Mây thường đi cùng nhớ nhung, chia cách và đợi chờ: “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà Lòng ta thương bạn nước mắt và lộn cơm”. Một đám mây phủ núi mà thành nỗi buồn. Mây ở đây không còn là hiện tượng thiên nhiên nữa. Nó trở thành khoảng cách. Trong ca dao tình yêu, mây thường xuất hiện giữa hai người không đến được với nhau. Người xưa ít nói thẳng về tình cảm; họ gửi nó vào gió, trăng, mây, nước. Có lẽ vì mây là thứ hợp với tình yêu nhất: đẹp nhưng không giữ được, gần mà không chạm tới. Không phải ngẫu nhiên mà thơ Việt Nam, nhất là thơ tình, đầy mây. Hàn Mặc Tử có lẽ là người đã viết câu thơ nổi tiếng nhất về mây trong thi ca hiện đại: “Gió theo lối gió, mây đường mây…”. Chỉ sáu chữ mà đã gợi ra cả một cuộc chia ly tinh thần. Gió và mây vốn đi cùng nhau, vậy mà ở đây lại chia hai ngả. Đó không chỉ là sự tan vỡ của tình yêu, mà còn là cảm giác cô độc của con người hiện đại - gần nhau mà không thể thuộc về nhau. Mây trong thơ Hàn Mặc Tử thường trắng, lạnh và xa. Nó vừa đẹp vừa mang linh cảm tan biến. Đến Huy Cận, mây lại mang nỗi buồn vũ trụ: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc…” Câu thơ trong Tràng giang gần như ai cũng thuộc. Chữ “đùn” rất lạ. Nó khiến mây không còn nhẹ nữa mà có sức nặng. Những lớp mây như đang dồn tụ lên nhau, tạo nên cảm giác bức bối và cô đơn của cả một thế hệ thi sĩ trước thời cuộc. Trong thơ cổ, mây lại mang một vẻ phiêu du khác. Nguyễn Du viết: “Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”. Cái “khói biếc” ấy vừa là mây, vừa là sương, vừa là lớp thời gian phủ lên ký ức. Thi pháp phương Đông thường không tách biệt rõ mây – khói - sương. Chúng hòa vào nhau thành một thứ không khí bảng lảng của tâm trạng. Người xưa thích nhìn núi trong mây. Có lẽ vì núi càng xa càng đẹp, mà mây làm cho cái xa ấy thêm huyền ảo. Tranh thủy mặc Á Đông luôn để mây chen giữa núi và người như một khoảng lặng triết học. Con người đứng trước mây thường nhỏ lại, cô độc hơn nhưng cũng tự do hơn. Tản Đà là thi sĩ rất mê mây. Ở ông, mây không buồn mà ngông. Mây là dấu hiệu của kẻ muốn thoát khỏi mặt đất. Người ta vẫn nhớ hình ảnh một Tản Đà “lên tiên”, ngồi uống rượu, đọc thơ giữa mây trời. Trong nhiều bài thơ của ông, mây mang vẻ lãng tử của một tâm hồn không chịu ở yên trong thực tại. Nhưng có lẽ mây đẹp nhất vẫn là trong âm nhạc Việt Nam. Âm nhạc làm cho mây trở nên mềm và có hồn hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào khác. Trịnh Công Sơn là người đã đưa mây vào ca từ bằng cảm giác rất riêng. Mây trong nhạc Trịnh không chỉ là phong cảnh, mà là ký ức đang trôi: Cồn đá rêu phong rủ buồn / Đèn phố nghe mưa tủi hờn/ Nghe ngoài trời giăng mây tuôn... (Biển nhớ); Gọi nắng trên vai em gầy / Đường xa áo bay / Nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say/ Lối em đi về trời không có mây... (Hạ trắng); hay: Trời còn làm mây, mây trôi lang thang/ Sợi tóc em buồn, trôi nhanh, trôi nhanh / như dòng nước hiền... (Tuổi đá buồn); “Trời ươm nắng cho mây hồng/ Mây qua mau em nghiêng sầu/ Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm/ Mây âm thầm mang gió lên” (Mưa hồng); hay thân phận hơn: “Mây che trên đầu và nắng trên vai…” (Một cõi đi về)… Mây ở Trịnh thường đi cùng thời gian. Nó khiến người nghe có cảm giác mọi thứ đều đang trôi đi rất chậm: tuổi trẻ, tình yêu, những cuộc gặp gỡ. Trong nhiều ca khúc tiền chiến, mây cũng thường mang màu chia ly. “Mây chiều”, “mây thu”, “mây tím”… người Việt dường như luôn nhìn mây bằng đôi mắt của hoài niệm. Có lẽ bởi đất nước này sống dưới một bầu trời nhiệt đới nhiều biến động: mây kéo đến rất nhanh, tan cũng rất nhanh. Một buổi chiều đang nắng có thể lập tức chuyển mưa. Tâm trạng con người vì thế cũng dễ gửi vào mây hơn. Ở vùng núi phía Bắc, mây còn mang một ý nghĩa khác. Với nhiều dân tộc miền cao, mây gắn với đường tình duyên và số phận. Những bản làng người Mông, Dao, Hà Nhì thường chìm trong mây. Mây không còn ở trên trời nữa mà đi vào đời sống hằng ngày. Người ta đi giữa mây, gọi nhau qua mây, yêu nhau trong mây. Có những phiên chợ tình vùng cao tan vào mây sớm. Có những khúc khèn gọi bạn tình vọng qua sườn núi đầy mây trắng. Trong cảm thức miền núi, mây vừa là vẻ đẹp vừa là khoảng cách. Nó làm cho con người gần trời hơn nhưng cũng cô đơn hơn. Người Nhật có một khái niệm thẩm mỹ nổi tiếng - dịch theo Anh ngữ là mono no aware - nỗi buồn dịu dàng trước vẻ đẹp chóng tàn của thế gian. Thật ra người Việt cũng có cảm thức ấy, chỉ là không gọi thành tên. Mây khiến người ta nhận ra sự mong manh của mọi thứ. Một đám mây đẹp thường chỉ tồn tại vài phút. Hoàng hôn đẹp nhất cũng là lúc sắp tắt. Tình yêu nhiều khi cũng vậy. Có lẽ vì thế mà trong thơ ca, mây thường đi cùng những cuộc tình không trọn. Người ta ít ví tình yêu với đá hay sắt thép; người ta ví với mây. Vì tình yêu luôn đổi hình, luôn trôi, luôn tan rồi lại hiện ra ở một nơi khác trong ký ức. Người phương Tây cũng nhìn thấy điều ấy. Nhà thơ Anh Percy Bysshe Shelley viết trong bài The Cloud: “I change, but I cannot die”. (Ta đổi thay, nhưng không thể chết). Đó có lẽ là định nghĩa đẹp nhất về mây. Mây tan đi nhưng không mất. Nó chỉ chuyển hóa. Cũng như ký ức con người - tưởng đã biến mất nhưng thật ra chỉ đổi hình dạng. Họa sĩ Anh John Constable từng dành cả bức tranh chỉ để vẽ mây. Ông gọi bầu trời là “cơ quan chủ yếu của cảm xúc” trong phong cảnh. Với các họa sĩ phương Tây thế kỷ XIX, mây không còn là phông nền; nó là tâm trạng của thiên nhiên. Nhưng dù ở Đông hay Tây, có lẽ điều khiến mây sống mãi trong nghệ thuật nằm ở bản chất đặc biệt của nó. Mây là thứ vừa có vừa không. Nó hiện diện mà không thể nắm giữ. Nó có hình mà không cố định. Nó che khuất mặt trời nhưng cũng làm cho bình minh và hoàng hôn đẹp hơn. Con người yêu mây có lẽ vì nhìn thấy mình trong đó. Đời người cũng giống mây: luôn đổi thay, luôn trôi qua, không đứng yên được bao giờ. Ngày nay, người hiện đại ít ngắm mây hơn. Những thành phố bê tông làm bầu trời hẹp lại. Người ta xem thời tiết qua điện thoại thay vì nhìn trời. Nhưng tôi nghĩ bản năng ngẩng lên nhìn mây chưa bao giờ mất. Bởi có những lúc rất mệt mỏi, con người tự nhiên muốn nhìn lên cao. Ở đó luôn có mây. Một đám mây trắng trôi qua ô cửa tàu. Một vệt mây tím cuối chiều trên sông. Một lớp mây đen báo cơn mưa mùa hạ. Một cụm mây cô độc trên nền trời tháng chạp. Không giữ ai lại. Nhưng cũng chưa bao giờ hoàn toàn biến mất. Mây vẫn lặng lẽ đi qua đời sống chúng ta như thế. Đi qua tâm tưởng chúng ta. n 30-31/5/2026 www.tienphong.vn 14 SÁNG TÁC MINH HỌA: VŨ XUÂN TIẾN LÊ THIÊN TRANG Mây qua hồn người
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==