Báo Tiền Phong số 150-151

Sự xuất hiện của Chuyện người mê phim số 2 (NXB Trẻ, 2026) như một cuộc trở về của điện ảnh Việt Nam thời kỳ đầu tiên, xao xuyến, lấp lánh và ngây thơ. Cuốn sách tuyển chọn các bài viết đặc sắc của Cao Nhị về nghệ sĩ và điện ảnh. Đồng thời trả lại chân dung đầy đủ hơn cho một trí thức nghệ sĩ tài hoa: một nhà báo, nhà phê bình điện ảnh, và một dịch giả có cá tính văn chương riêng. Trong nhiều năm, công chúng biết đến Cao Nhị qua các bản dịch như Trên đường của Jack Kerouac hay Người đàn bà vùng gió của Judith Kantz. Ông dịch nhiều cuốn sách từ tiếng Pháp, tham gia cả các nhóm dịch thuật. Hai cuốn sách nói trên là sách đến nay vẫn tái bản. Cao Nhị thuộc lớp dịch giả miền Bắc chuyển ngữ văn học phương Tây bằng trực giác nghệ sĩ hơn là kỹ thuật thuần túy. Văn dịch của ông có nhịp điệu, có không khí, có sự phóng khoáng của một người từng sống rất gần tinh thần của người trẻ châu Âu. Nhưng ông được biết đến nhiều hơn trong tư cách một cây bút điện ảnh sắc sảo. Ông từng viết cho nguyệt san Kể chuyện phim, rồi tham gia báo Sáng Tạo, trước khi trở thành cây bút quen thuộc của tờ báo điện ảnh đầu tiên của đất nước với bút danh “Người mê phim số 2”, (sau này bị sửa là “Người yêu phim”). Chính từ đây, ông bước vào lịch sử điện ảnh Việt như một “người kể chuyện phía sau màn bạc”. Đạo diễn Đặng Nhật Minh nhớ lại: “Tôi nhớ ông Cao Nhị ở tài kể chuyện phim. Vào những năm 55, đâu có biết điện ảnh là gì, thế mà khi đọc kể chuyện phim của ông, tôi cố đi xem phim. Có khi xem phim lại thấy không hay bằng đọc kể chuyện phim của ông”. Một lời nhớ tưởng giản dị nhưng rất gợi. Nó cho thấy thứ hấp lực đặc biệt trong văn Cao Nhị: ông không chỉ viết về phim, ông khiến điện ảnh sống thêm một lần nữa trên trang giấy. Sinh thời, nhà phê bình cũng dành nhiều bài viết cho các tác phẩm của vị đạo diễn, trong đó có những đánh giá đầy thiện cảm dành cho Thị xã trong tầm tay. Cao Nhị cũng chính là người đầu tiên được Đặng Nhật Minh kể cho nghe ý tưởng về Bao giờ cho đến tháng Mười – về sau được kênh CNN của Mỹ bầu chọn là một trong 18 bộ phim châu Á xuất sắc mọi thời đại. Cao Nhị không viết về nghệ sĩ và các nhân vật của ông bằng văn phong khoa trương, kiểu lập luận cao đạo, “bảng phong thần”. Ông nhìn họ, những người lao động nghệ thuật bằng sự khách quan của nghề, nhưng dưới những dòng chữ là sự đồng cảm pha lẫn tinh quái. Dưới ngòi bút Cao Nhị, họ hiện lên có tài năng, có nhọc nhằn, có những “tật” kiểu nghệ sĩ. Có cả những bất an rất đời thường. Những chân dung trong sách vì thế luôn có sức gợi đặc biệt thú vị. Khi viết về chuyện nhà văn Kim Lân vào vai lão Hạc, Cao Nhị không chỉ nói về diễn xuất của ông nhà văn mà còn hé lộ vẻ đẹp vô danh của điện ảnh: “Thì ra người đóng vai lão Hạc là Kim Lân mà người nói những câu nghĩa lý, những câu trời sầu đất thảm lại là ông diễn viên Lại Phú Cương. Sao giống tiếng Kim Lân thế nhỉ? Sao khớp thế nhỉ? Những tiếng nói rung lên nước mắt, nhắm mắt lại, không cần nhìn, cũng có thể khóc được. Nhưng mà ông Lại Phú Cương không có mặt trên phim, cũng không có tên trên phim…”. Đó là Cao Nhị. Ông luôn nhìn thấy những con người đứng phía sau luồng sáng. Những người lồng tiếng, quay phim, những “ông khói lửa”, “ông đạo cụ”, ông chủ nhiệm phim, những người lao động thầm lặng của điện ảnh – những người thường bị lịch sử bỏ quên. “…từ nay xem phim, xin đừng quên đọc – và nhớ, và yêu tên ông chủ nhiệm phim bên cạnh tên các tác giả và diễn viên làm ra bộ phim đó. Đó là sự công bằng, là thái độ trân trọng cần thiết…” (Trần Cam – người chủ nhiệm phim). Trong bài viết về Giám đốc Xí nghiệp Phim truyện Việt Nam Nguyễn Thụ, ông lại để nhân vật hiện lên bằng một chi tiết đời thường đến bất ngờ: “và chị ấy kể với tôi rằng: Ôi, ông ấy ‘nhảy đầm’ như chớp, cùng nhau đi tắm biển ở Xô-chi nữa chứ, mà mãi đến khi sắp cưới nhau, em mới biết là anh ấy… thiếu một chân!” (Nguyễn Thụ - chân dung một giám đốc). Một chi tiết vừa hài hước vừa xót xa, nhưng chỉ bằng vài dòng, Cao Nhị đã dựng được cả một chân dung sống động về một thế hệ nghệ sĩ từng đi qua chiến tranh. Hay khi viết về đạo diễn Phạm Văn Khoa, ông chỉ phác vài nét mà nhân vật đã hiện lên rõ ràng: “Anh uống rượu rất xoàng, thuốc lá thì không biết hút. Nhưng nói thì to, tiếng nói vọng trong hang núi càng vang…”. Ông viết rất khéo về Trà Giang, một nghệ sĩ song hành một người mẹ. Ông tả rất hoạt không khí gia đình nghệ sĩ Trần Tiến – Lê Mai cùng ba cô con gái nổi tiếng. Ông tường minh thể loại, và thẳng thắn phê “nếu như yêu cầu số một của thể loại tài liệu thời sự là tôn trọng sự thực thì cũng đã có một ít phim tài liệu của ta chưa tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu số một đó. Như “dựng lại” quá nhiều, lấy tư liệu này ghép vào tư liệu kia… Anh Ba Kỳ đã không rơi vào tình trạng đáng tiếc ấy.” (Ba Kỳ). Đó là cách Cao Nhị xác định tính chính danh: phim nghệ thuật hãy hư cấu, tưởng tượng bay bổng; phim tài liệu thời sự hãy tích tụ đời sống chân thực. Đọc ông hôm nay, người ta nhận ra một kiểu phê bình điện ảnh gần như đã biến mất. Đó không phải kiểu “review” nhanh của thời mạng xã hội, cũng không phải thứ lý luận hàn lâm khô cứng. Cao Nhị viết bằng con mắt của một người xem phim rất sâu, nhưng đồng thời cũng là người hiểu nhân tính phía sau bộ phim. Ông quan tâm đến ánh sáng, nhịp dựng, diễn xuất, nhưng cuối cùng vẫn quay về câu hỏi lớn hơn: điện ảnh nói gì về số phận con người? Nhiều trang trong sách vì thế vượt khỏi phạm vi phê bình phim để trở thành ký sự văn hóa. Ta bắt gặp trong đó không khí của các trường quay thời chiến, những đoàn phim thiếu thốn vật chất nhưng đầy lý tưởng, những nghệ sĩ sống trong một thời đại mà làm nghệ thuật luôn gắn với niềm tin và hy sinh. Và cả mối quan hệ giữa nghệ sĩ và cơ chế quản lý văn hóa lúc bấy giờ. Nếu Đặng Nhật Minh nhớ ông như một người kể chuyện phim kỳ diệu, thì nhà văn Mai Lâm lại khắc họa một Cao Nhị đời thường, phóng khoáng: “Có những người khiến ta ngạc nhiên bởi sự siêu phàm, nhưng lại cũng có người khiến ta ngạc nhiên bởi sự hồn nhiên bình dị của họ. Ông Cao Nhị, bố dượng tôi, thuộc loại thứ hai. Tôi cho rằng chính sự bình thường đến tối giản đã làm nên vẻ kỳ dị của ông…”. Đó là một nhận xét rất đúng về Cao Nhị. Ở ông có sự hồn nhiên của người nghệ sĩ sống nhiều bằng cảm xúc hơn toan tính. Ông từng sống trong căn gác nhỏ trên nhà số 19 phố Trần Quốc Toản, Hà Nội. Quanh ông là sách, bản thảo, bạn bè và điện ảnh. Một đời sống gần như không thuộc về logic thành đạt thông thường. Mai Lâm xót xa: “Không nghèo khó thì làm gì có chuyện năm 1980 ông Cao Nhị vào Huế thăm nuôi con trai là Cao Xuân Huy, bảo “Chú Phùng Quán rang cho mày con gà đây này”. Đạo diễn Đặng Nhật Minh, nhà báo Trung Sơn, các nhà văn Đỗ Phấn, Nguyễn Ngọc Tiến, nhà biên kịch Đoàn Tuấn, khi viết về ông Cao Nhị, đều gợi ra hình ảnh một trí thức, văn nghệ sĩ Hà Nội cũ tài hoa, lãng tử, không chịu khép mình vào khuôn phép. Có lẽ chính vì vậy mà ông trở thành một nhân vật khá “lệch pha” với đời sống văn nghệ ngày càng thực dụng về sau. Bản thân tôi, người viết bài này, khá thân thuộc với các ông anh - đạo diễn Cao Mạnh và nhà văn Mai Lâm, những người nhà của cụ Cao Nhị. Cũng đã từng được tụ bạ ở trên căn gác ngôi nhà 19 Trần Quốc Toản. Nhiều khi hình dung về ông, tôi thấy ông cũng như cha tôi, một thế hệ trí thức yêu nước dạt xô qua bao biến cố kinh thiên động địa, đất nước cắt chia gia đình tan hợp, những tờ báo những nhà xuất bản mọc lên, thay tên đổi họ… nhưng các cụ vẫn giữ tấm lòng son, sự chất phác hồn nhiên của những người chỉ biết đến con chữ và văn nghệ. Cuốn sách Chuyện người mê phim số 2 giúp người đọc hôm nay nhận ra điện ảnh Việt Nam từng sớm được xây dựng không chỉ bằng đạo diễn hay diễn viên, mà còn bằng những người viết về điện ảnh. Những cây bút như Cao Nhị từng giữ vai trò trung gian giữa nghệ thuật và công chúng; họ giúp khán giả học cách xem phim, cảm phim, hiểu điện ảnh như một ngôn ngữ văn hóa chứ không chỉ là giải trí. Trong thời đại mà phê bình điện ảnh đang bị thay thế bởi tốc độ, thuật toán và những đánh giá vụn vặt ngắn ngủi, sự trở lại của Cao Nhị như mang theo lời nhắc: điện ảnh không chỉ cần kỹ thuật hoành tráng hay doanh thu khủng, mà còn cần những người biết nhìn phim bằng chiều sâu văn hóa và nhân bản. Đáng mừng, nhiều người trẻ quan tâm điện ảnh nghệ thuật hôm nay xem cuốn sách này như một kho tư liệu. Họ đọc cuốn sách theo nhiều hướng: nghiên cứu lịch sử văn hóa, lịch sử báo chí, mỹ học điện ảnh miền Bắc Việt Nam thời đầu. Chuyện người mê phim số 2 là một kho ký ức về điện ảnh Việt. Là chân dung của một thế hệ không thể quên. Và sâu xa hơn, đó là lời nhắc rằng phía sau lịch sử điện ảnh luôn có những người lặng lẽ gìn giữ ký ức bằng chữ nghĩa – như dịch giả, nhà phê bình nghệ thuật Cao Nhị. n 30-31/5/2026 www.tienphong.vn VĂN HÓA 13 CÓ NHỮNG NGƯỜI ĐI QUA ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ KHÔNG Ở PHÍA HÀO QUANG. HỌ LẶNG LẼ QUAN SÁT, GHI CHÉP, ĐỐI THOẠI VỚI NGHỆ THUẬT TRONG THỜI ĐẠI CỦA MÌNH BẰNG TRI THỨC, CHỮ NGHĨA. NHÀ BÁO – DỊCH GIẢ CAO NHỊ LÀ MỘT NGƯỜI NHƯ THẾ. Người giữ ký ức điện ảnh LÊ ANH HOÀI bằng chữ Ông Cao Nhị cùng hai người con (ảnh chụp trên sân thượng căn nhà 19 Trần Quốc Toản, Hà Nội, khoảng năm 1970) Dịch giả, nhà phê bình điện ảnh Cao Nhị Bìa cuốn "Chuyện người mê phim số 2" (NXB Trẻ, 2026)

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==