3 n Thứ Năm n Ngày 23/4/2026 THỜI SỰ thuật truyền thống Phát biểu tại Quốc hội, sáng 22/4, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nêu rõ, nghị quyết của Chính phủ tập trung giải quyết hai vấn đề lớn: Tháo gỡ các điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc trong phát triển văn hóa; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển văn hóa. Dự thảo nghị quyết đã xác định rõ nguồn lực phát triển văn hóa gồm nguồn ngân sách nhà nước hằng năm bảo đảm tối thiểu 2% trong tổng chi ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội. Bà Thanh cho biết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang phối hợp Bộ Tài chính và các cơ quan, địa phương xác định rõ cơ cấu của 2%, đảm bảo việc chi cho văn hóa đúng mục tiêu và đúng ưu tiên trọng tâm. Dự thảo thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị về ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Ngoài quy định các đơn vị văn hóa, giải trí công lập sẽ miễn, giảm phí, lệ phí cho nhân dân trong ngày này, có đại biểu đề xuất thêm cơ chế khuyến khích các cơ sở tư nhân tham gia. Bà Thanh cho biết sẽ ghi nhận để tiếp thu nội dung này. ĐẶC BIỆT QUAN TÂM TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT CỦA CÁC DÂN TỘC Về cơ chế, chính sách bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống, bà Thanh cho biết, đây là điều mới được bổ sung. Các cơ chế, chính sách, giải pháp được thiết kế theo hướng ưu tiên nguồn lực tài chính bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam, các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một và nghệ thuật truyền thống. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến của các đại biểu, trong đó đặc biệt quan tâm vấn đề tiếng nói, chữ viết của các dân tộc. “Chúng tôi cũng đã xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho văn hóa các dân tộc thiểu số, phát triển không gian bảo tồn văn hóa làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch, phát huy vai trò chủ thể văn hóa để tạo sinh kế bền vững”, bà Thanh nói. Nhiều đại biểu quan tâm vấn đề nhân lực lĩnh vực văn hóa, bà Thanh nêu hiện nay có nhiều chính sách trong Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, như các đề án về đào tạo, bồi dưỡng, chương trình đầu tư cho trường học, trong đó tập trung vào đối tượng học sinh, sinh viên. Về Quỹ Văn hóa nghệ thuật, Chính phủ đã bổ sung vào dự thảo nghị quyết quy định về việc thí điểm thành lập Quỹ Văn hóa nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch. Bà Thanh cho rằng, đây là cơ chế phù hợp với đặc thù đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nguồn vốn của quỹ gồm “vốn nền” từ ngân sách và nguồn đối ứng xã hội từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các nguồn bổ sung như tài trợ quốc tế hoặc các nguồn thu hợp pháp khác. Việc thành lập quỹ chủ yếu để huy động các nguồn lực xã hội. Theo bà Thanh, ngân sách nhà nước chủ yếu đóng vai trò là “vốn mồi” để khuyến khích việc đóng góp của tư nhân. Cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát, điều chỉnh chặt chẽ hơn với mô hình quỹ này trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế. TR.PHONG - L.DŨNG Theo Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, Chính phủ đã bổ sung vào dự thảo nghị quyết quy định về việc thí điểm thành lập Quỹ Văn hóa nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, năm 2025, thực hiện chủ trương của Trung ương, Chính phủ đã trình Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, xác định các mục tiêu, giải pháp toàn diện phát triển văn hóa, đồng thời bố trí kinh phí thực hiện trong giai đoạn 2025 - 2030. Tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có nhiều nhiệm vụ về phát triển văn hóa. Dự thảo nghị quyết đã xác định rõ nguồn lực phát triển văn hóa gồm nguồn ngân sách nhà nước hằng năm bảo đảm tối thiểu 2% trong tổng chi ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội. sống đương đại, khó tiếp cận đặc biệt là thế hệ trẻ; thiếu cơ chế chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế; phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước, thiếu tính bền vững. Lấy ví dụ về bộ phim “Mưa Đỏ”, MV “Bắc Bling”, hay phim hoạt hình “Sói Wolfoo”, bà Vân nhấn mạnh, giá trị văn hóa này nếu được đưa vào sản phẩm công nghiệp sáng tạo lại có khả năng lan tỏa rất nhanh, rất mạnh. “Điều này cho thấy, văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu sáng tạo hấp dẫn trong thời đại số, vừa góp phần bảo tồn theo cách linh hoạt, vừa đem lại giá trị kinh tế. Nếu chỉ dừng ở bảo tồn, văn hóa sẽ mãi là di sản, có giá trị nhưng không được khai thác. Văn hóa chỉ thực sự “sống” khi được đặt trong dòng chảy của thị trường và sáng tạo”, bà Vân nhận định. Tuy nhiên, theo bà Vân, phát triển công nghiệp văn hoá, dù được xác định là động lực kinh tế mới nhưng các chính sách được thiết kế trong dự thảo chỉ dừng lại ở mức khuyến khích, chưa tạo động lực tài chính đủ mạnh để thu hút khu vực tư nhân và đầu tư quốc tế. Dự thảo chưa có cơ chế thử nghiệm chính sách đủ linh hoạt cho lĩnh vực mới, còn thiếu các chỉ tiêu định lượng rõ ràng cho từng giai đoạn 5 năm, 10 năm. Từ đó, bà Vân đề xuất, cần số hoá di sản, cần nền tảng số quốc gia để phân phối nội dung văn hóa, hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ số và bảo vệ bản quyền trên môi trường số. Cần áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cạnh tranh hơn, miễn giảm dài hạn cho các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm; cho phép khấu trừ cao hơn đối với chi phí sáng tạo cho điện ảnh, game, âm nhạc số… TRƯỜNG PHONGLUÂN DŨNG Sẽ thí điểm lập Quỹ đầu tư mạo hiểm văn hóa nghệ thuật Hội, Đội, khai thác hiệu quả các thiết chế, các không gian”, bà Trang nói. CẦN CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN TÀI NĂNG VĂN HÓA TỪ SỚM Thứ hai, cần có cơ chế đủ mạnh để phát triển sản phẩm văn hóa cho thiếu nhi. Trẻ em hiện nay tiếp cận một khối lượng rất lớn sản phẩm văn hóa, giải trí, đặc biệt là trên môi trường số, nhưng các sản phẩm phù hợp với lứa tuổi, có giá trị giáo dục và mang bản sắc văn hóa Việt Nam hiện còn hạn chế. Vì vậy, cần phải chủ động xây dựng hệ sinh thái sản phẩm văn hóa chất lượng, hấp dẫn, hiện đại, phù hợp với tâm lý lứa tuổi nhằm tạo lực đẩy nội sinh trong định hướng thẩm mỹ và hình thành nhân cách cho giới trẻ. Theo bà Trang, nên hoàn thiện cơ chế đặt hàng từ ngân sách nhà nước dành tỷ lệ phù hợp cho phim, sách, chương trình nghệ thuật, sản phẩm truyền thông số phục vụ thiếu nhi; đồng thời có chính sách đột phá để khuyến khích tư nhân đầu tư, sáng tạo các sản phẩm văn hóa mang bản sắc Việt, có khả năng cạnh tranh, nếu không chúng ta sẽ tiếp tục thua ngay trên sân nhà. Thứ ba, cần cơ chế phát triển tài năng văn hóa từ sớm. Phát triển văn hóa không chỉ dựa vào bảo tồn, lan tỏa giá trị mà phải tạo dựng nguồn lực sáng tạo cho tương lai. Vì vậy, nghị quyết cần làm rõ cơ chế phát hiện kịp thời, tuyển chọn và bồi dưỡng tài năng văn hóa nghệ thuật ngay từ đối tượng thiếu nhi; gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và tổ chức Đoàn, Hội, Đội và hệ thống thiết chế văn hóa. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu bổ sung các cơ chế hỗ trợ mang tính trọng tâm, dài hạn thông qua các quỹ, chương trình và đề án phát triển văn hóa. LẤY CON NGƯỜI LÀM TRUNG TÂM, ĐẶC BIỆT QUAN TÂM THẾ HỆ TRẺ Thứ tư, nhấn mạnh nguyên tắc là bồi dưỡng tài năng phải đi đôi với bồi dưỡng nhận thức. Thực tiễn cho thấy việc chú trọng phát triển năng khiếu, kỹ năng và thành tích là cần thiết, tuy nhiên nếu thiếu nền tảng về nhận thức văn hóa, đạo đức và bản lĩnh cá nhân thì sự phát triển sẽ thiếu bền vững, tiềm ẩn hệ lụy xã hội. “Vì vậy, nghị quyết cần thể hiện rõ quan điểm bồi dưỡng tài năng phải gắn với giáo dục nhận thức văn hóa một cách bài bản. Đây là điều kiện tiên quyết để phát triển tài năng một cách toàn diện, hài hòa giữa tài và đức cũng như phát huy tối đa giá trị văn hóa”, bà Trang nhận định. Thứ năm, cần đầu tư phát triển công chúng văn hóa. Một nền văn hóa bền vững phải dựa vào cả người sáng tạo và công chúng. Thực tiễn cho thấy, nếu công chúng văn hóa chưa được quan tâm đúng mức thì các thiết chế, sản phẩm, thị trường văn hóa khó có thể phát triển ổn định. Vì vậy, nghị quyết cần bổ sung các giải pháp chăm lo, nâng cao khả năng tiếp cận thụ hưởng văn hóa của nhân dân; đặc biệt là việc phát triển năng lực cảm thụ, thưởng thức văn hóa trong cộng đồng, đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, lan tỏa trong trường học, gia đình và các không gian công cộng, hình thành thói quen tiếp cận, nhu cầu thưởng thức và đánh giá văn hóa thực chất, lành mạnh và bền vững. “Từ những nội dung nêu trên, đề nghị dự thảo nghị quyết tiếp tục được hoàn thiện theo hướng lấy con người làm trung tâm, đặc biệt quan tâm đến thế hệ trẻ, đảm bảo phát triển văn hóa không chỉ dừng ở tầm chính sách vĩ mô mà phải cụ thể thành những điều kiện thiết thực trong đời sống. TR.PHONG- L.DŨNG VĂN HÓA VIỆT NAM Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh ẢNH: NHƯ Ý ĐBQH Trần Thị Vân ẢNH: NHƯ Ý “Để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, chúng ta cần chuyển đổi tư duy mạnh mẽ: từ “bảo tồn tĩnh” sang “động”, từ “hỗ trợ” sang “đầu tư chiến lược”, từ “khuyến khích” sang “tạo động lực thị trường”, và từ “quản lý văn hóa” sang “phát triển kinh tế văn hóa” để bảo tồn và lan tỏa mạnh mẽ giá trị con người và bản sắc Việt Nam ra thế giới”. ĐBQH TRẦN THỊ VÂN
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==