Báo Tiền Phong số 111

3 n Thứ Ba n Ngày 21/4/2026 THỜI SỰ ĐÁP ỨNG CẢ 7 TIÊU CHUẨN Nếu Quốc hội thông qua, Đồng Nai sẽ là thành phố thứ 7 trực thuộc trung ương sau Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Huế. Tỉnh Đồng Nai hiện hành đáp ứng cả 7 tiêu chuẩn để trở thành thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có những tiêu chí rất quan trọng như thu nhập, dân số, diện tích và vị trí địa lý. Về vị trí, tỉnh Đồng Nai (cũ) không có biên giới, nhưng sau khi sáp nhập thì tỉnh Đồng Nai (mới) gồm cả phần kết nối với Bình Phước, tạo nên những vị trí rất đắc địa, nhất là với lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Song song với quốc phòng, an ninh, Đồng Nai còn có lợi thế rất lớn về kinh tế. Cùng với Bình Dương cũ (nay là TP.HCM), 2 địa phương phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu chế xuất, từ đó tạo công ăn việc làm cho người dân từ miền Tây tới vùng này. Từ phân tích trên, Đại tướng Phan Văn Giang cho rằng, Đồng Nai đã đủ điều kiện trở thành thành phố. Nếu Quốc hội thông qua, Đồng Nai sẽ là thành phố thứ 7 trực thuộc trung ương sau Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Huế. Mới đây, Bộ Chính trị đã đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc trung ương. Vì vậy, việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương trước sẽ là động lực, kinh nghiệm cho sau này. CỰC TĂNG TRƯỞNG “GÁNH VÁC” CHO CÁC TỈNH KHÁC Theo đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai), việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương là rất tốt, nhưng tương lai phát triển ra sao cũng là vấn đề rất quan trọng. Ông kiến nghị phải có các cơ chế đặc thù để thành phố phát triển mạnh mẽ. Nghị quyết cần quy định bên cạnh những chính sách hiện hành áp dụng với tỉnh Đồng Nai, cần xây dựng thêm các cơ chế đột phá trong thời gian tới, cần một “chiếc áo mới” đặc biệt hơn nữa cho thành phố trong tương lai. Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Vũ Hồng Văn cho hay, việc thành lập thành phố Đồng Nai là quyết sách quan trọng của trung ương, không đơn thuần là nâng cấp hành chính và thiết lập mô hình quản trị tiên tiến. Về quy mô kinh tế, hiện Đồng Nai đứng thứ tư cả nước, chỉ sau TPHCM, Hà Nội và Hải Phòng. Tỉnh Bình Phước trước đây là tỉnh miền núi, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều địa phương chưa được nông thôn mới nhưng sau một năm hợp nhất với Đồng Nai, sức sống của Bình Phước cũng vươn lên rất mãnh liệt. Ông Vũ Hồng Văn nhấn mạnh, Đồng Nai xác định không chỉ phát triển về số lượng mà còn về năng lực thu ngân sách và năng suất lao động. Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Vũ Hồng Văn khẳng định, năm nay địa phương có thể thu 150.000 tỷ đồng để nộp ngân sách nhà nước. “Đồng Nai xác định là một cực tăng trưởng để gánh vác cho các tỉnh khác trong việc thu ngân sách”, ông Vũ Hồng Văn khẳng định, đồng thời cho hay, nếu chậm trễ thực hiện sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển. LUÂN DŨNG Thảo luận tại tổ về đề án thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương sáng 20/4, Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tán thành với đề án thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương. Với quỹ đất rộng, nguồn lao động dồi dào, Đồng Nai đang được doanh nghiệp FDI quan tâm đặt nền móng phát triển lâu dài ẢNH: V.Q Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng cho biết, sau khi sáp nhập với Bình Phước, Đồng Nai có vị trí chiến lược, có đường biên giới. Khu vực Bình Phước trước đây có huyện Lộc Ninh là địa bàn được giải phóng sớm ở miền Nam, từng là nơi tập kết lực lượng, vật lực cho chiến trường. Cùng với lợi thế về vị trí và hạ tầng như sân bay Long Thành, hồ thủy điện Trị An, Đồng Nai hội tụ đầy đủ điều kiện để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. mệnh lệnh hành chính, chưa chắc đã phản ánh đúng bản chất của tiết kiệm. Ông Lâm cho rằng, cắt ở đâu, khoản nào, khâu nào cần được tính toán kỹ lưỡng. Nếu sau khi cắt giảm mà hoạt động vẫn đảm bảo, vẫn đạt mục tiêu quản lý thì cần đặt lại vấn đề về tính đúng đắn của định mức chi tiêu và chất lượng công tác lập dự toán. Thứ ba, đối với chi đầu tư, theo ông Lâm, yêu cầu tiết kiệm không phải là cắt giảm quy mô vốn mà là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hiện nay hệ số ICOR của nước ta đang ở mức rất cao. Thông thường các nước chỉ có 3-4 đồng tạo 1 đồng tăng trưởng, chúng ta 6-7 đồng mới ra 1 đồng tăng trưởng, cho thấy sự lãng phí lớn và cho thấy hiệu quả đầu tư còn rất hạn chế, thậm chí có biểu hiện lãng phí. Vì vậy, theo đại biểu Trần Văn Lâm, cần tập trung vào các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư từ khâu lựa chọn danh mục dự án, đảm bảo tính lan tỏa, hiệu quả kinh tế xã hội đến khâu chuẩn bị đầu tư, lập dự án, dự toán, tổ chức thực hiện, giải ngân và bảo đảm chất lượng công trình, kiểm soát chống thất thoát lãng phí, đặc biệt là quản lý vận hành khai thác hiệu quả sau đầu tư. Nguyên tắc đặt ra là đầu tư bằng vốn vay thì hiệu quả phải cao hơn chi phí vay, đầu tư phải nhanh đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả kinh tế. “Tiết kiệm trong quản lý chi ngân sách nhà nước cần phải tiếp cận với một tư duy tổng thể, bao trùm và thực chất, không nên thực hiện một cách máy móc, cứng nhắc theo mệnh lệnh hành chính, và phải gắn với mục tiêu cao nhất là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững của đất nước”, ông Lâm nêu rõ. Cuối phần thảo luận, ông Trần Văn Lâm nhấn mạnh: không phải cứ chi ít đi là tiết kiệm mà chi đúng, chi hiệu quả mới là tiết kiệm. Không phải tăng thu bằng mọi giá mà là nuôi dưỡng nguồn thu bền vững cho nền kinh tế. Mỗi đồng thu chi ngân sách phải đúng chỗ, hợp thời, tạo ra giá trị thực cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước, đó mới là tiết kiệm nhất. TRƯỜNG PHONG - LUÂN DŨNG PHÓ THỦ TƯỚNG PHAN VĂN GIANG: Đồng Nai đã đủ điều kiện trở thành thành phố chính, Bộ Tài chính - cho biết, chính sách tài chính sẽ được định hướng tập trung vào một số trụ cột lớn, trong đó quan trọng có việc phát triển thị trường vốn. “Tập trung nâng cao quy mô và chất lượng thị trường trái phiếu Chính phủ, tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp và phát triển các nhà đầu tư tổ chức dài hạn như quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm”, bà Tâm chia sẻ. GIẢM PHỤ THUỘC TÍN DỤNG, CÂN LẠI DÒNG VỐN Ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup - tính toán nhu cầu vốn trong giai đoạn tới bình quân khoảng 8 triệu tỷ đồng/năm. Đầu tư công lớn nhưng tín dụng ngân hàng không còn nhiều dư địa. Đầu tư cho dự án lớn cần dựa trên nguồn vốn trung và dài hạn. Dòng vốn FDI vẫn được kỳ vọng duy trì tích cực, dù bối cảnh quốc tế còn nhiều biến động. “Dòng vốn từ mua bán và sáp nhập (M&A) còn nhỏ nhưng có thể duy trì. Vốn từ phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) năm vừa qua đạt lớn, tôi kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng. Đây là dòng vốn thật, trung dài hạn. Việt Nam vừa được nâng hạng thì sẽ nhận được sự quan tâm của các quỹ, qua đó hoạt động IPO, thoái vốn sôi động. Kênh huy động vốn từ trái phiếu cũng mới phục hồi, giá trị nếu trừ ngân hàng ra thì không lớn. Nhiều người nói khả năng huy động vốn của Việt Nam khó khăn nhưng tôi tin rằng nếu chúng ta có sự cải cách thì có thể huy động được”, ông Thuân dự báo. Ông Thuân nhấn mạnh, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là huy động thêm vốn, mà là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Muốn vậy, cần đẩy mạnh cải cách thị trường vốn, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo chiều sâu, mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp ngoài ngân hàng và đa dạng hóa sản phẩm chứng khoán nợ. Việc cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng là yếu tố then chốt để giảm chi phí huy động vốn. Hướng đi khác được đề xuất là vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong việc hình thành các quỹ đầu tư quy mô lớn, giải bài toán vốn dài hạn cho các nhóm dự án hạ tầng; quỹ tăng trưởng quốc gia. Đây là cách một số quốc gia đã làm để hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế cao. Ông Nguyễn Bá Hùng - chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam - cũng cho rằng, một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là nâng cao hiệu quả huy động vốn cho nền kinh tế, trong đó cần đặc biệt chú trọng phát triển thị trường trái phiếu. Theo ông Hùng, thị trường trái phiếu là kênh huy động vốn ngoài ngân hàng rất hiệu quả, nhất là đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, kênh này vẫn chưa được phát triển tương xứng với tiềm năng. Dẫn số liệu so sánh, ông Hùng cho biết đến cuối năm 2025, quy mô tín dụng ngân hàng tương đương khoảng 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ chiếm khoảng 10% GDP. Sự chênh lệch lớn này cho thấy nền kinh tế đang phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng vốn. Đáng chú ý, khoảng 40% dư nợ của hệ thống ngân hàng hiện là các khoản vay trung và dài hạn, tương đương xấp xỉ 60% GDP. Điều này tạo ra áp lực không nhỏ lên hệ thống tài chính, bởi ngân hàng vốn phù hợp hơn với tín dụng ngắn hạn. VIỆT LINH Đến cuối tháng 3, tín dụng tăng khoảng 2,45%, nhưng huy động mới chỉ đạt khoảng 0,31%

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==