8 VĂN HÓA - GIẢI TRÍ n Thứ Hai n Ngày 20/1/2025 LÀNG NGHỀ 200 TUỔI Về làng Vĩnh Sơn, chúng tôi được nghe người dân nơi đây kể những câu chuyện lịch sử hình thành làng nghề bắt rắn hơn 200 năm, trở thành làng nghề truyền thống có số hộ được cấp phép chăn nuôi rắn hổ mang nhiều nhất Việt Nam. Theo lời kể của nghệ nhân Nguyễn Văn Thịnh (69 tuổi), Chủ tịch Hội làng nghề rắn Vĩnh Sơn, ngày xưa Vĩnh Sơn có tên Sơn Tang, vốn là một vùng rậm rạp hoang sơ, nơi trú ngụ của nhiều loài rắn độc. Vậy nên, cứ vào những dịp đầu xuân mới, lúc rắn rời khỏi hang săn mồi, thì người dân cũng đeo giỏ, vác khều đi bắt rắn về bán cho những người ngâm rượu hoặc làm thuốc. “Khi nguồn rắn tự nhiên ngày càng khan hiếm, người dân Vĩnh Sơn nảy ý tưởng bắt rắn về nuôi. Theo thời gian, nhiều người biết cách phối giống để rắn sinh nở. Cứ thế, số lượng người nuôi rắn tăng nhanh và hình thành làng rắn Vĩnh Sơn như bây giờ”, ông Thịnh cho hay. Theo ông Thịnh, năm 1979, được sự giúp đỡ Trung tâm Sinh lý - Hoá sinh người và động vật (nay là Viện Công nghệ sinh học), xã Vĩnh Sơn thành lập Trung tâm nuôi và nhân giống rắn (thường gọi Trại rắn Vĩnh Sơn). “Trại rắn đi vào hoạt động là sự kết hợp giữa kinh nghiệm cổ truyền và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Sản phẩm của trại rắn ở thời điểm đó chủ yếu dùng để ngâm rượu, nấu cao”, ông Thịnh kể. Sau khi trại rắn được thành lập, người dân Vĩnh Sơn tự hào khi được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học về thăm. Năm 1983, Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm trại rắn, căn dặn người dân nơi đây gìn giữ và phát triển làng nghề nuôi rắn phục vụ cho y tế, khoa học, giúp người dân có cuộc sống tốt hơn. Bước vào những năm kinh tế tập thể thoái trào, Trại rắn giải thể, chuyển giao công nghệ chăn nuôi cho người dân. Ban đầu có 12 hộ nhận nuôi rắn, thời kỳ cao điểm làng nghề có gần 900 hộ nuôi rắn. Giai đoạn này ngoài các sản phẩm truyền thống, còn có sản phẩm nọc rắn đông khô xuất khẩu sang thị trường Pháp, Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi Liên Xô và Đông Âu xảy ra biến động chính trị, nọc rắn không xuất khẩu được nữa, nông dân quay lại phục vụ thị trường trong nước. Năm 1991, người dân chuyển hướng sang thị trường Trung Quốc với các mặt hàng rắn thương phẩm, trứng rắn, con giống. “Trong những năm gần đây ở Trung Quốc đã phát triển mạnh nghề nuôi rắn hổ mang, nhưng họ không nuôi được rắn sinh sản, vẫn phải nhập trứng, con giống từ Vĩnh Sơn”, ông Nguyễn Văn Thịnh nói. Nghề nuôi rắn ở Vĩnh Sơn trải qua nhiều biến cố, nhưng người dân ở đây đều vượt qua, đưa làng nghề phát triển theo thời gian. Người dân cho rằng, đây là nghề khá an nhàn, vì 3 đến 4 ngày mới cho rắn ăn một lần, mùa đông là mùa rắn “ngủ” không phải cho ăn. Ông Thịnh cho biết, trước đây thức ăn của rắn là chuột, cóc, nhái…, nhưng khi nguồn thức ăn tự nhiên khan hiếm, người dân chuyển sang cho ăn các phụ phẩm chăn nuôi như cổ cánh gà, vịt hoặc gà giống một ngày tuổi thải loại. “Mỗi năm Vĩnh Sơn tiêu thụ Làng rắn Vĩnh Sơn (xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) gắn liền với truyền thống săn bắt rắn tự nhiên của người dân vào mùa xuân ấm áp. Theo thời gian, nơi đây hình thành làng nghề truyền thống nuôi rắn, mang lại cuộc sống đủ đầy cho người dân. CÔNG THỨC THÀNH CÔNG CỦA PHIM VIỆT Nếu nhìn vào Top 10 phim Việt doanh thu cao nhất năm 2024, người xem sẽ nhận ra một điều bất cập: 8/10 tác phẩm đều xoay quanh chủ đề gia đình, cụ thể là mâu thuẫn thế hệ. Cả nền điện ảnh dường như đang bám víu vào mô típ “bố mẹ, con cái” như thể đây là công thức thần thánh. Xác suất này dày đến nỗi, những người yêu điện ảnh phải đặt câu hỏi: ngoài gia đình, chẳng lẽ không còn đề tài nào đủ sức thu hút khán giả Việt? Không ai phủ nhận sự thành công về doanh thu của những bộ phim có đề tài gia đình. Mai của Trấn Thành với doanh thu 551 tỷ đồng hay Lật Mặt 7: Một điều ước của Lý Hải cán mốc 482 tỷ đồng là những con số biết nói. Nhưng xét cho cùng những thành công này không nằm ở sự đột phá, mà vì nó đánh trúng điểm yếu cảm xúc của người Việt - tình thân, nước mắt và những câu chuyện gần gũi. “Sự thành công phòng vé không đồng nghĩa với giá trị nghệ thuật hay sự đa dạng trong điện ảnh, đặc biệt trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam hiện nay. Nếu cứ tiếp tục lạm dụng một công thức, điện ảnh Việt sẽ giậm chân tại chỗ. Các giải thưởng danh giá như Oscar hay Cannes không tìm kiếm những bộ phim an toàn và dễ đoán, họ vinh danh những tác phẩm dám đột phá, kể những câu chuyện khác biệt và độc đáo. Lấy đâu ra những bộ phim đủ sức gây tiếng vang khi tất cả đạo diễn chỉ biết khai thác chuyện mẹ chồng nàng dâu?”, nhà phê bình Đăng Khoa chia sẻ. Đáng nói hơn, sự đơn điệu này có thể kéo theo sự tụt hậu của điện ảnh Việt so với các nước trong khu vực. Trong khi Hàn Quốc, Nhật Bản, thậm chí cả Thái Lan đang mạnh dạn khám phá các thể loại mới và đạt được thành công vang dội, Việt Nam lại bị bó hẹp trong vòng lặp của những bộ phim dễ dãi về đề tài. Điều này không chỉ làm giảm sức cạnh tranh mà còn làm nhạt nhòa bản sắc văn hóa trong điện ảnh, một trong những yếu tố quan trọng để thu hút sự chú ý của khán giả quốc tế. Sự thiếu đa dạng trong nội dung còn tạo nên một rào cản lớn đối với thế hệ nhà làm phim trẻ. “Chúng tôi bị buộc phải tuân theo công thức cũ nếu muốn được đầu tư và phát hành. Điều này cũng đồng nghĩa với việc phải tạm dẹp qua một bên tinh thần thử nghiệm và đổi mới. Đây chính là vòng xoáy nguy hiểm khiến ngành điện ảnh không thể phát triển bền vững”, đạo diễn Lê Trung Kiên chia sẻ. Một số người biện minh rằng khán giả Việt “thích” phim gia đình, song trên thực tế, các rạp chiếu ngập tràn các bộ phim cùng một đề tài, khán giả buộc phải chấp nhận những gì được cung cấp. Đây không phải là sở thích tự nhiên, mà là kết quả của việc nhà sản xuất ép buộc thị trường, người xem đang bị định hướng bởi sự một màu trong sản phẩm điện ảnh. Không khó để dự đoán, ở tương lai gần, sự đơn điệu trong thể loại sẽ dẫn đến sự nhàm chán của khán giả. Họ có thể khóc hôm nay, nhưng sẽ ngáp ngày mai khi thấy những câu chuyện gia đình quen thuộc lặp đi lặp lại. “Khán giả Việt không hề ngốc. Họ biết khi nào mình bị đối xử như những người tiêu dùng dễ dãi. Không ai có thể kiên nhẫn với chỉ một thực đơn, cho dù nó có là sơn hào hải vị đi chăng nữa”, nhà phê bình Đăng Khoa nhận xét. CÁC THỂ LOẠI KHÁC VÌ SAO KHÔNG THU HÚT? Trong khi phim gia đình liên tục “cháy vé”, các thể loại khác như hành động, lịch sử, khoa học viễn tưởng, hay kinh dị lại gặp khó khăn trong việc thu hút khán giả. Chẳng hạn, bộ phim Năm 2024, điện ảnh Việt Nam chứng kiến sự thống trị của thể loại phim gia đình tại phòng vé. Theo thống kê, trong số 10 phim Việt có doanh thu cao nhất, có đến 8 tác phẩm khai thác mâu thuẫn thế hệ và căng thẳng trong gia đình để xây dựng cao trào. “Đây là một sự bế tắc chứ không phải tín hiệu hay ho gì”, nhà phê bình Đăng Khoa lên tiếng. Về Vĩnh Sơn nghe chuyện làng rắn Lý do phim gia đình cháy vé, các thể loại nVIẾT HÀ – KIẾN NGHĨA PHÓNG SỰ Phim Mai đại thắng về doanh thu nhưng lại không được đánh giá cao về mặt nghệ thuật “Điện ảnh không phải là chỗ để né tránh rủi ro. Nó là nơi để thử nghiệm, để sáng tạo và mở ra những góc nhìn mới. Đã đến lúc các nhà làm phim Việt Nam cần dũng cảm hơn. Người xem Việt không hề ngại thử nghiệm. Họ sẵn sàng bỏ tiền cho những bộ phim thực sự chất lượng, chỉ cần các nhà làm phim mang đến cho họ niềm tin. Đừng bó buộc họ vào những câu chuyện nước mắt quen thuộc, trong khi điện ảnh có thể chạm đến những cung bậc cảm xúc sâu sắc và phong phú hơn rất nhiều”. Tiến sĩ NGUYỄN PHƯƠNG NGHI Ông Hạ Văn Hùng bắt rắn từ chuồng để giới thiệu với phóng viên ẢNH: P.V
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==