SỐ ĐẶC BIỆT DOANH NHÂN VIỆT NAM 2026

CĐ24 www.tienphong.vn DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN FDI THẾ HỆ MỚI: TỪ NHÀ MÁY UNILEVER ĐẾN SAU HƠN BA THẬP KỶ HIỆN DIỆN TẠI VIỆT NAM, UNILEVER VIỆT NAM KHÔNG CHỈ MỞ RỘNG SẢN XUẤT MÀ ĐANG ĐẨY MẠNH TỰ ĐỘNG HÓA, ỨNG DỤNG AI, PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG VÀ KINH TẾ TUẦN HOÀN. CÂU CHUYỆN CỦA DOANH NGHIỆP NÀY CHO THẤY MỘT LÁT CẮT VỀ FDI THẾ HỆ MỚI: GIÁ TRỊ KHÔNG CHỈ NẰM Ở VỐN ĐẦU TƯ, MÀ Ở CÔNG NGHỆ, NĂNG LỰC VẬN HÀNH VÀ NHỮNG TIÊU CHUẨN ĐƯỢC LAN TỎA THÀNH “MẠCH NGẦM” TRONG NỀN KINH TẾ. TỪ DÒNG VỐN ĐẦU TƯ ĐẾN NĂNG LỰC VẬN HÀNH XANH VÀ SỐ Tại nhà máy Unilever ở Củ Chi, hơn 40 dây chuyền sản xuất đang hoạt động trên diện tích khoảng 12 ha, với mức tự động hóa trên 95%. Đây là một trong những cơ sở sản xuất trọng yếu của Unilever tại Đông Nam Á, kết nối với hơn 140 nhà cung ứng trong và ngoài nước, đồng thời đưa sản phẩm tới hơn 35 quốc gia trên 4 châu lục. Nhưng quy mô nhà máy không phải điểm đáng chú ý duy nhất. Trong những năm gần đây, Unilever Việt Nam đưa công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào nhiều khâu trực tiếp của quá trình sản xuất. Hệ thống nhận diện lỗi sản phẩm bằng AI giúp giảm tới 90% khiếu nại liên quan đến chất lượng; AI CCTV mở rộng khả năng phát hiện các nguy cơ an toàn lên tới 50 lần so với quan sát thủ công; nền tảng phân tích hiệu suất giúp rút ngắn khoảng 85% thời gian phân tích và giảm 90% sai lệch do tính toán thủ công. Những con số này cho thấy chuyển đổi số trong sản xuất không còn dừng ở câu chuyện đầu tư thêm máy móc hay phần mềm. Công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi đi vào những điểm chạm cụ thể của vận hành: giúp sản phẩm ổn định hơn, người lao động an toàn hơn, dữ liệu minh bạch hơn và dây chuyền vận hành hiệu quả hơn. Đó cũng là cách giá trị của một dự án FDI được nhìn nhận trong bối cảnh mới. Bên cạnh vốn đầu tư, nhà máy hay sản lượng, điều quan trọng hơn là doanh nghiệp để lại gì cho nền kinh tế sau nhiều năm hiện diện: công nghệ nào được làm chủ, tiêu chuẩn nào được nâng lên, nhà cung ứng nào trưởng thành hơn và năng lực nào được hình thành trong lực lượng lao động. Sau gần 40 năm Đổi mới, khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, yêu cầu hiện nay đã khác so với giai đoạn đầu mở cửa. Việt Nam không chỉ cần thêm những dự án lớn, mà cần những khoản đầu tư có khả năng gắn sâu hơn với chuỗi cung ứng, công nghệ, nhân lực và năng lực đổi mới trong nước. Theo tinh thần định hướng mới về thu hút đầu tư nước ngoài, mục tiêu không chỉ là gia tăng dòng vốn, mà là nâng chất lượng đầu tư, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và gia tăng phần giá trị được tạo ra trong nền kinh tế. Nhìn từ góc độ đó, hoạt động của Unilever Việt Nam cho thấy một cách tiếp cận đáng chú ý: nhà máy không đứng riêng lẻ, mà trở thành một mắt xích kết nối sản xuất, công nghệ, nhà cung ứng, thị trường xuất khẩu và các tiêu chuẩn vận hành mới. MẠCH NGẦM LAN TOẢ CỦA HỆ SINH THÁI BỀN VỮNG Nếu chuyển đổi số giúp nâng hiệu quả bên trong nhà máy, chuyển đổi xanh lại mở rộng tác động của doanh nghiệp ra bên ngoài cánh cổng sản xuất. Trong 5 năm qua, mô hình hợp tác công - tư giữa Cục Môi trường và Unilever Việt Nam đã góp phần thu gom và tái chế hơn 60.000 tấn rác thải nhựa, đồng thời thúc đẩy các hoạt động phân loại, tái chế và hỗ trợ thực thi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Theo Unilever Việt Nam, khoảng 70% bao bì hiện có khả năng tái chế, trong khi tỷ lệ sử dụng nhựa tái chế trong bao bì đạt trung bình khoảng 50%. Những kết quả này phản ánh một thay đổi quan trọng trong cách các doanh nghiệp lớn tiếp cận bài toán phát triển bền vững. Nếu trước đây câu chuyện môi trường chủ yếu gắn với việc giảm phát thải hay xử lý chất thải trong nội bộ nhà máy, thì nay yêu cầu đã mở rộng ra toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ thiết kế bao bì, sử dụng vật liệu, tiêu dùng đến thu gom và tái chế sau sử dụng. Bước sang giai đoạn hợp tác 2026-2030, trọng tâm không chỉ là tăng khối lượng thu gom và tái chế mà còn hướng tới kết nối chính sách, công nghệ, doanh nghiệp, nguồn vốn và cộng đồng đổi mới sáng tạo để đưa các giải pháp tuần hoàn nhựa từ ý tưởng vào thử nghiệm, kiểm chứng và nhân rộng. Điểm đáng chú ý ở đây là vai trò của doanh nghiệp FDI không còn bó hẹp trong việc “xanh hóa” hoạt động của chính mình. Khi một doanh nghiệp lớn đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn về vật liệu, bao bì, truy xuất dữ liệu hay hiệu quả tài nguyên, những yêu cầu đó sẽ dần lan sang các nhà cung ứng, đối tác sản xuất, đơn vị tái chế và hệ thống phân phối. Một nhà cung ứng muốn tiếp tục tham gia sẽ phải cải thiện quy trình, dữ liệu và tiêu chuẩn sản xuất. Một doanh nghiệp tái chế muốn trở thành đối tác lâu dài phải đáp ứng yêu cầu cao hơn về chất lượng đầu ra. Các doanh nghiệp trong hệ thống phân phối cũng phải thích ứng với những tiêu chuẩn mới về quản lý sản phẩm, vật liệu và chất thải. Đó chính là phần giá trị ít được nhìn thấy trong những con số về vốn hay doanh thu, nhưng lại có ý nghĩa dài hạn: doanh nghiệp FDI có thể trở thành lực kéo giúp các mắt xích trong chuỗi cùng nâng chuẩn. Với Unilever, quá trình này diễn ra song song với việc xây dựng mạng lưới nhà cung ứng và hệ thống phân phối tại Việt Nam. Sau hơn ba thập kỷ hiện diện, doanh nghiệp đã hình thành một chuỗi giá trị rộng, từ sản xuất, nguyên liệu, logistics đến phân phối và tiêu dùng. Khi các chuẩn vận hành, chuyển đổi số và phát triển bền vững được áp dụng xuyên suốt hệ thống đó, giá trị của khoản đầu tư không chỉ nằm ở số lượng sản phẩm được sản xuất hay thị trường được mở rộng, mà còn ở năng lực của cả hệ sinh thái xung quanh. Nhắc đến Unilever, nhiều người nghĩ ngay đến những thương hiệu quen thuộc như OMO, Lifebuoy hay Sunlight. Nhưng phía sau những sản phẩm xuất hiện trong đời sống hằng ngày còn có một lớp giá trị khác ít được nhìn thấy hơn. Đó là hệ thống nhà cung ứng phải liên tục nâng chuẩn; là các dây chuyền sản xuất vận hành ngày càng dựa nhiều hơn vào dữ liệu; là những yêu cầu mới về an toàn, chất lượng, môi trường và hiệu quả tài nguyên; là việc các doanh nghiệp trong chuỗi phải thích ứng với chuẩn mực ngày càng cao của thị trường toàn cầu. Đây cũng chính là phần “mạch ngầm” của một khoản đầu tư dài hạn. Không hiện diện rõ như các con số về vốn, doanh thu hay sản lượng, nhưng chính những năng lực này góp phần làm nền kinh tế mạnh hơn từ bên trong: giúp đối tác nâng chuẩn vận hành, đưa tiêu chuẩn toàn cầu vào thực hành địa phương và mở rộng khả năng tham gia của Việt Nam trong các chuỗi giá trị rộng hơn. Khi những năng lực đó được hình thành, FDI không còn là một dòng vốn chỉ“đi qua”nền kinh tế, mà trở thành một phần của quá trình nâng cấp năng lực sản xuất trong nước. Sau hơn ba thập kỷ, giá trị của Unilever tại Việt Nam vì thế không chỉ được nhìn qua những sản phẩm đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng, mà còn qua hệ sinh thái sản xuất, cung ứng và phát triển bền vững mà doanh nghiệp đang từng bước xây dựng. n XUÂN PHONG Mô hình hợp tác công - tư giữa Cục Môi trường và Unilever Việt Nam đã góp phần thu gom và tái chế hơn 60.000 tấn rác thải nhựa Các đại biểu cắt băng khánh thành trạm MRF, một trong những sáng kiến trọng điểm thuộc dự án “Phân loại rác tại nguồn và tái chế rác thải nhựa dựa vào cộng đồng” của Unilever Việt Nam phối hợp cùng phường Tân Mỹ, TPHCM thực hiện Sau hơn ba thập kỷ, giá trị của Unilever tại Việt Nam không chỉ được nhìn qua những sản phẩm đã trở nên quen thuộc mà còn qua hệ sinh thái sản xuất, cung ứng và phát triển bền vững "mạch ngầm" hệ sinh thái xanh, số

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==