SỐ ĐẶC BIỆT DOANH NHÂN VIỆT NAM 2026

43 www.tienphong.vn VĂN HÓA DOANH NHÂN GẮN CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG VỚI TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ Những năm gần đây, các tour đêm tại Nhà tù Hỏa Lò, Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã từng bước chứng minh, di sản nếu được kể lại bằng công nghệ và thiết kế trải nghiệm thì từ giá trị văn hóa có thể tạo ra giá trị kinh tế mới. Nhiều chương trình biểu diễn, lễ hội, sản phẩm thiết kế, điện ảnh, trò chơi và nội dung số cũng báo trước về một thị trường đang mở rộng; nhiều địa phương đã gắn di sản với du lịch, ẩm thực, làng nghề và kinh tế ban đêm. Nếu trước đây ứng dụng công nghệ trong văn hóa chủ yếu được hiểu là số hóa tài liệu, đưa thông tin lên website hay sử dụng mạng xã hội để quảng bá, thì hiện nay công chúng đã bắt đầu tiếp cận chuyển đổi số theo nghĩa rộng hơn: Công nghệ tham gia vào cả chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối, quảng bá, trải nghiệm và quản trị văn hóa… Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) Nguyễn Huy Dũng, kết quả định lượng ban đầu ghi nhận đóng góp của ngành văn hóa trong giai đoạn 2023-2025 đạt khoảng 5% GDP. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ trọng này lên 7%. Để thực hiện, Bộ VHTT&DL đang triển khai các giải pháp về thể chế và đổi mới phương thức quản lý. Về thể chế, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng cho biết Bộ VHTT&DL đang xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, dự kiến trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 10/2026. Sáu nhóm chính sách trong dự luật hướng tới kết nối các khâu đứt gãy trong chuỗi giá trị, tạo khuôn khổ rõ ràng, thông thoáng để khơi thông nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này. Cùng với việc xây dựng luật, Bộ chú trọng đo lường tốc độ tăng trưởng và mức đóng góp của công nghiệp văn hóa vào nền kinh tế. Ở quy mô cả nước, đó là đóng góp vào GDP; ở từng địa phương, đó là đóng góp vào tổng sản phẩm trên địa bàn, tức GRDP. Theo ông Dũng, các chỉ tiêu tăng trưởng này phải gắn với trách nhiệm của từng cơ quan quản lý và từng địa phương. Hai nội dung được ông Dũng nhấn mạnh là mở đường cho nguồn lực đầu tư và xác định trách nhiệm đối với kết quả phát triển. Trong đó, việc đo lường cụ thể mức đóng góp của công nghiệp văn hóa là một phần của đổi mới quản lý, gắn hoạt động của ngành với mục tiêu tăng trưởng chung. CƠ CHẾ CHO ĐẦU TƯ DÀI HẠN Với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về thể chế cho công nghiệp văn hóa Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, chủ trương, chiến lược và nhận thức về vai trò của công nghiệp văn hóa đã được xác lập. Điều còn thiếu là những cơ chế đồng bộ để đưa tiềm năng vào đời sống kinh tế. Bà Phương chỉ ra khung chính sách vẫn phân tán theo từng lĩnh vực quản lý, thiếu cơ chế điều phối đủ mạnh để kết nối văn hóa, sáng tạo với khoa học công nghệ, du lịch, thương mại và đô thị. Các công cụ khuyến khích đầu tư tư nhân, hợp tác công tư cũng còn thiếu. Những mô hình mới cần cơ chế thử nghiệm, trong khi địa phương, nhất là các đô thị sáng tạo, cần cách vận hành linh hoạt hơn. Lấy ví dụ một dự án kết hợp di sản với du lịch, biểu diễn và công nghệ. Để triển khai, nhà đầu tư cần một cơ chế phối hợp quản lý rõ ràng, cùng điều kiện tiếp cận nguồn lực, hợp tác với đơn vị công lập và thử nghiệm mô hình mới. Bài toán dòng tiền cũng cần được tính xuyên suốt từ đầu tư, sáng tạo, sản xuất đến phân phối sản phẩm và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Chính sách hỗ trợ vì thế, theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, cần xác định rõ khâu cần tháo gỡ, giúp doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường và duy trì hoạt động. Xung quanh những băn khoăn về nguy cơ sản phẩm văn hóa chạy theo xu hướng thương mại hóa quá mức mà xa rời các yếu tố văn hóa đích thực, theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, khi phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, yếu tố thị trường là tất yếu. Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở việc có thương mại hóa hay không, mà ở cách thức kiểm soát và định hướng quá trình thương mại hóa. “Cần phân biệt rõ, phát triển công nghiệp văn hóa là quá trình chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm và giá trị thông qua sáng tạo, công nghệ và thị trường. Trong khi đó, thương mại hóa thuần túy là chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, làm nghèo giá trị và làm phẳng bản sắc. Do đó, phát triển công nghiệp văn hóa cần dựa trên nguyên tắc: Lấy sáng tạo làm động lực, lấy bản sắc làm lõi, lấy công nghệ làm đòn bẩy, lấy thị trường làm kênh phân phối và lấy thể chế làm bộ lọc định hướng”, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương nhấn mạnh. n ĐẠT NHI BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH ĐANG XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA, DỰ KIẾN TRÌNH QUỐC HỘI XEM XÉT TRONG THÁNG 10/2026. DỰ LUẬT HƯỚNG TỚI KẾT NỐI CÁC KHÂU ĐỨT GÃY TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ, TẠO THỂ CHẾ RÕ RÀNG, THÔNG THOÁNG ĐỂ KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC ĐẦU TƯ. VỚI DOANH NHÂN VÀ NGƯỜI LÀM NGHỆ THUẬT, NHỮNG THAY ĐỔI ẤY ĐƯỢC KỲ VỌNG SẼ MỞ ĐƯỜNG CHO HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO, KINH DOANH. KỲ VỌNGCƠ CHẾ MỚI Theo nam đạo diễn, bài toán cốt lõi là xây dựng mô hình kinh doanh bền vững. Đặc thù của biểu diễn, tổ chức sự kiện là doanh nghiệp phải bỏ nguồn lực lớn từ trước cho ý tưởng, kịch bản, sân khấu, âm nhạc, hình ảnh, tập luyện và kỹ thuật, trong khi doanh thu và tiến độ thanh toán phụ thuộc vào từng hợp đồng. Nếu chỉ vận hành theo từng dự án, doanh nghiệp khó duy trì nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm riêng và đào tạo đội ngũ. Vì vậy, hướng đi dài hạn là từng bước sở hữu những sản phẩm, thương hiệu có thể khai thác nhiều lần, xác định rõ khán giả, nguồn thu, quyền khai thác và vòng đời sản phẩm. “Một chương trình thành công là dấu mốc. Một sản phẩm có thể tiếp tục tạo doanh thu mới là nền tảng phát triển doanh nghiệp”, đạo diễn Hoàng Công Cường nhận định. Khi chuyển từ đạo diễn sang người điều hành, mối quan tâm cũng không còn dừng ở chất lượng tác phẩm và phản ứng của khán giả. Người đứng đầu phải tính đến ngân sách, dòng tiền, hợp đồng, việc làm và thu nhập của đội ngũ. Mỗi lựa chọn nghệ thuật đều có hệ quả kinh tế: thêm một hạng mục sân khấu, thay giải pháp công nghệ hay kéo dài thời gian tập luyện đều có thể làm tăng chi phí. “Với tôi, trách nhiệm của người làm chủ là tạo điều kiện để đội ngũ làm nghề tốt và sống được bằng nghề. Một đêm diễn có thể khép lại bằng tiếng vỗ tay, nhưng trách nhiệm với những người làm nên đêm diễn ấy vẫn tiếp tục vào ngày hôm sau”, đạo diễn Hoàng Công Cường bày tỏ. Theo anh Cường, lịch sử, di sản, âm nhạc, lễ hội và đời sống đương đại của Việt Nam là nguồn chất liệu để phát triển chương trình biểu diễn, trải nghiệm văn hóa gắn với điểm đến hay sản phẩm kết hợp nghệ thuật với công nghệ. Cơ hội cũng nằm ở sự kết nối giữa doanh nghiệp sáng tạo với du lịch, công nghệ, truyền thông và các đơn vị sở hữu không gian văn hóa. Để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn, đạo diễn Hoàng Công Cường đề xuất các chương trình tín dụng, bảo lãnh hoặc đồng đầu tư phù hợp với đặc thù ngành sáng tạo, chính sách thuế khuyến khích tái đầu tư vào nghiên cứu, sản phẩm, nhân lực, công nghệ. Đồng thời, những người làm nghề mong mỏi việc nâng cao hiệu quả bảo vệ bản quyền và quyền khai thác. Với hoạt động đặt hàng, cần có lộ trình dài hạn, tiêu chí minh bạch và tiến độ tạm ứng, nghiệm thu, thanh toán phù hợp với quá trình sản xuất. Trong hợp tác công - tư tại các không gian văn hóa, trách nhiệm bảo tồn, quyền khai thác, thời hạn hợp tác và phương án chia sẻ doanh thu cũng cần được xác định cụ thể. Mục tiêu không chỉ là giúp doanh nghiệp thực hiện thêm nhiều chương trình, mà tạo điều kiện để họ đầu tư dài hạn, sở hữu sản phẩm, nuôi dưỡng đội ngũ và hình thành nguồn thu bền vững. Khi đó, doanh nghiệp do nghệ sĩ, người sáng tạo làm chủ có thể trở thành một mắt xích của công nghiệp văn hóa, nơi ý tưởng được chuyển hóa thành sản phẩm, tài sản trí tuệ, việc làm và giá trị kinh tế. n Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Nguyễn Huy Dũng PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương Cuộc thi Hoa hậu Việt Nam là sự kiện văn hóa uy tín, thu hút sự quan tâm của công chúng ẢNH: HỒNG VĨNH

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==