Báo Tiền Phong số 311-312

7 - 8/11/2026 www.tienphong.vn 9 PHÓNG SỰ đề u phát lộ vào buổ i đêm hay vào thời điểm ngoài giờ hành chính. Vậ y nên thấ y á i ngạ i lẫ n tộ i nghiệ p cho nhà thơ Dương Kỳ Anh mỗi khi có ai đó vào phòng hoặc hai ông Trưởng ban xuất hiện là vội vàng đẩy khi mạnh lúc nhẹ cái ngăn kéo vào! Thì ra ở dưới ngăn kéo là một bản thảo thơ đương viế t dở . Cái ngăn ké o bàn làm việ c của Nguyễn Hoàng Sơn cũng có mộ t thứ na ná. Tôi cũ ng theo anh em gọ i phó ng viên ban Văn nghệ Phan Cung Việ t mỗi một từ gọn, thân là Phan. Và Phan hay réo tôi là Vũ. Ý Phan ưu á i khuyế n khích việ c viế t phó ng sự phải theo gương Vũ Trọ ng Phụ ng. Nghề nà y phả i gọ i ông nà y tiên sư. Mấ y cuố n thơ truyệ n cho tôi, Phan đề gọ n lỏ n Tặ ng Vũ . Phòng tôi và phòng Văn nghệ gần nhau. Nhớ một ngày tháng bảy năm bảy bảy (1977). Phan thuở ấy đương bù ng lên vẻ mặn mò i sung mã n củ a mộ t thờ i trai. Sơ mi trắ ng quần màu nhạt. Tóc chải bồng. Hình như Phan sắp đi đâu vẻ bồn chồ n. Giữ a trưa mà ngó ra trờ i xầ m xì như sắp tối. Cơn áp thấp đang hoành hành. Mồm chuyện mà tay Phan lia nhanh trên một tờ lịch vừa xé. Xong, đẩy sang tôi. Trời ạ! Là thơ. Anh quyết ra đi mưa giữ lại/ Cá nh cử a phò ng cứ đậ p mã i không thôi/ Gió như cửa chăng dầy lớp lớp/ Hai tù nhân thương nhớ giữa cuộ c đờ i. Sau mới biết bữa ấy mưa gió, Phan nhỡ cuộ c hẹn vớ i mộ t ngườ i tình nào đó ? Mà người yêu của Phan thì là cô nào? Chịu! Một nhà thơ Phan Cung Việt nổi danh. Bửng tưng đã thấy tha thướ t nhữ ng cộ ng tác viên nhữ ng thi nhân tuyền đàn bà tìm đến Phan. Ngồi chuyện trên phòng chưa đã lại dạt sang bên hàng nướ c đố i diệ n cơ quan. Đủng đỉnh sống. Thư thả thơ. Chữ nhung nhăng củ a Tô Hoà i vậ n vào Phan thờ i sung sứ c viế t và thơ ấy có lẽ cũ ng phải. Phan khác những Dương Kỳ Anh, Hoàng Sơn phải kín đáo đôi lúc dấm dúi cái việc mần thơ nhưng Phan thì cứ như coi việc thơ là đương nhiên, thậm chí khoe khéo lẫn công khai. Tay khi tờ Văn Nghệ, lúc tờ báo, tạp chí nào đó lúc khư khư, khi thì để lơ đễnh hờ hững trên bàn như tố cáo “tớ mới có bài in đây này”. Trước khi có phong trào nằm bàn cơ quan, mười mấy thằng tá túc ở căn phòng lớn của khu tập thể Hàng Trống. Thường Phan không biết nhung nhăng những đâu về ngủ khá muộ n. Sá ng bả nh đã thấy âm thanh soàn sọat xuýt xoa. Ấ y là Phan đang khí công xoa bó p gì đó ở xó phò ng. Mà khoản thể dục Phan chăm. Không trà thuốc, có rượu bia tí ti (sau này hưu cù ng ở khu Ao Phe, sá ng nà o cũ ng thấy Phan có độ ng thái đập bụng vào cây cọ nói là để giảm mỡ thông khí chi đó khiến mấy bà hưu phả i né trá nh lố i khá c). Và gì nữa, khe khẽ ư ử những câu thơ nháp có lẽ mới bật, mới nẩy ra hồi đêm? Sau này đọc truyện ngắn của Phan có cảm giác như đang chuyệ n vớ i Đỗ Chu. Ấ y là mỗ i khi ngườ i ngợ m chao đảo, lòng dạ tự dưng trống hoác muốn tìm sự thăng bằng nếu không có điều kiện đến Đỗ Chu thì đọ c lão. Ai đó đã nó i trong con người ta luôn có con vượn và con ngựa nhẩy nhót. Tâm viên ý mã là thế. Viên là vượn. Muốn ngựa yên, vượn ổn thì phải tự chế ngự. Chế ngự có 2 cách. Tự mình bằng nghị lực. Hoặc tìm thầy. Thầy là người đối thoại chuyện trò. Như một dạng pháp sư như phù thủy chế ngự thứ âm binh đang nhảy nhót quấy động. Truyện ngắn của Phan cấu tứ như dạng thơ Thiền. Lúc thủ thỉ du dương mà lắm khi ngang phè nhưng có cái lý xuôi thuận và chắc khừ của lò ng ngườ i thó i đờ i. Phan có tý chứ c năng phù thủ y ấy chăng? Thi thoảng ghé giường của Phan để tỏ tường thêm chuyện một phóng viên Phan Cung Việt nhận lệnh của Tổng Biên tập âm thầm nhập vào một cánh quân vượt sông Thạch Hãn sang bờ Nam cuố i năm 1972. Chuyệ n Phan chúi vào góc hầm lia bút thật lực trên nhữ ng tờ giấy bất kỳ vớ đượ c nhữ ng tin tứ c bà i vở để gử i ra Bắ c. Mà gử i bằ ng cá ch đó n nhữ ng cá nh quân ngượ c Bắc an dưỡ ng, khi thì cánh lái xe ra lấy hàng nhờ họ chuyển. Mà có mấy người, xe đến đượ c Hà Nội? Họ bỏ cái phong bì của Phan đựng bài vở trên phong bì ghi hàng chữ đậm Kính nhờ cá c anh các chị chuyển bài của phóng viên Phan Cung Việt từ chiến trường gửi về Tòa soạn báo Tiền Phong, số nhà 15 Hồ Xuân Hương, Hà Nội. Tem làm gì có! Ấy thế mà diệu kỳ cho cái tình người thuở ấy. Chưa có bài vở nào của Phan bị thất lạc cả! Ai đó đã nó i cuố i đờ i chớ nên ở chung khu nhà vớ i ngườ i cơ quan. Đã ngắm ngó soi nhau chán chê từ ng ấ y năm về già cuối đời lạ i lặ p lại cái cự c hình khi nhìn ngó nhau lại? Kể cũng có lý? Nhưng là với ai kia. Chứ vớ i ông hàng xó m độ c thân vô hại Phan Cung Việt sự gần nhau va đụng hàng ngày nó như sự tiếp tục và nối dài những thương mế n cù ng là thân ái? Đằng sau những sải bước nằng nặng của tật bệnh cùng tuổi tác như đương rờ rỡ, chập chờn những cột mốc mà một đời viết mấy ai chả dễ chi có được! Tạm biên ra đây ít dòng như này: Gần chục tập thơ. Riêng khoản truyện ngắn, lão có chiếu riêng. Lên chùa/ Tòa thánh/ Vàng thương mến/Xe đạp/ Nhớ thương tu hú/ Sóng trước vỗ đâu/ Sương khói đàn ông/ Bến heo may/ Vườn trăng/ Người đẹp xuống ga Thạch Gia Trang/ Truyện chọn lọc…; Biển trinh nguyên (tuyển truyện ngắn); Tuyển tập truyện ngắn Phan Cung Việt; Mẹ tôi và trần gian, (Truyện vừa). Người thơ hàng xóm lặng lẽ trong khu tập thể Ao Phe lại là người tất tật bà con trong khu Tập thể biết đến! Có khách lạ hỏi nhà thơ Phan Cung Việt là thân dẫn đến tận nhà! Nói nhà là cho sang! Từ khi hưu, Phan có bút danh là Lều Văn. Thi sĩ, văn sĩ cái tên ấy cũng thường. Nhưng có cái lạ, tiêu chuẩn cơ quan báo thuở xa ấy định xuất mua mỗi người là 50 m2 trên khu đất có tên là Ao Phe trước Chùa Nam Đồng. Tất tật các hộ đã dựng nhà 3, 4 tầng. Nhưng riêng mảnh đất 50 m2 trị giá nhiều chục cây vàng của Phan từ lúc phân, mua ấy cứ lặng lẽ để trống hàng chục năm trời! Nói để trống, cũng chả phải. Phan nhờ người dựng trên đó một thứ kết cấu nửa nhà cấp 4 nửa lán trại nửa lều làm nơi trú ngụ! Bút danh Lều Văn chả sai ngoa tí nào! Đông chi dạ, hạ chi nhật, dằng dặc như ngày hạ, lê thê như đêm đông, Phan văn sĩ thi sĩ thường có cái lối cấm cung lặng lẽ miệt mài những viết lách này khác… Mát mẻ, rộng rãi và tuyệt đối yên tĩnh! Đó là cái đích của thi sĩ! Ngậm ngùi nghĩ đến những nơi quần cư trú ngụ của Phan. Một thời chung nhau căn phòng gác 2 Khu Tập thể Hàng Trống giường cá nhân san sát kề nhau. Căn phòng làm việc gác 4 Trụ sở mới xây Hồ Xuân Hương, không biết bằng cách nào mà Phan lẩn mẩn phát hiện được một nơi trú độc đáo. Đó là một cái hộc dùng đựng đồ chắc khi thi công bị lỗ nên thợ bịt đi. Phan nhờ cánh trẻ trong phòng dọn dẹp. Cái hộc ấy kê vừa khít một cái bàn viết và một chỗ nằm. Có điều khi đứng phải khòm lưng. Về khu Ao Phe thì ngại, có thời gian Phan trú ngụ ở đó! Cái góc yên tĩnh ấy thường là nơi gặp gỡ giao du của cánh bạn văn nghệ sĩ thân thiết của Phan. … Cô hàng nước cái quán nối giữa Khu Tập thể Ao Phe và công viên 1-6 một chiều thấy cái xe con xịch đỗ. Một người xuống hỏi thăm nhà Phan. Rồi một ông già nữa bước xuống mà cô nói thoạt nhìn rất quen. Sau mới biết hai người vừa vào nhà Phan một người là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Mãi khi ấy và sau này người khu Ao Phe mới hay, thì ra Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm bạn cũ. Phan Cung Việt và Nguyễn Phú Trọng bạn cùng học Khoa Văn, Khóa 1963 - 1967. Lối sỏi trong công viên cạnh Khu Ao Phe vừa tạnh những sải chân của nhà thơ Dương Kỳ Anh chưa lâu. Nay lại bặt hằn những bước thập thững tuổi tác của nhà thơ Phan Cung Việt. n Mình cứ kiên trì liên lạc, gần gũi, tâm sự để họ hiểu. Khi nào họ muốn về thì chủ động gọi lại”, ông chia sẻ. Chúng tôi đến nhà gặp bà Nay H’Lúi (vợ ông Rchăm Y Pin, buôn Săm), người phụ nữ từng có quãng thời gian dài một mình gánh vác việc gia đình khi chồng rời quê sang Campuchia tìm kế sinh nhai. Bà Nay H’Lúi kể, cuộc sống tuy không giàu có nhưng vợ chồng bà cùng chăm sóc 2ha đất trồng bắp, mì. Sau khi nghe người quen giới thiệu sang Campuchia có công việc tốt, thu nhập cao, chồng bà quyết định vay mượn tiền để đi, để lại vợ và các con ở nhà. Không có giấy tờ hợp pháp, chồng bà phải làm thuê lén lút, công việc bấp bênh, tiền công nhiều khi chỉ nhận được một nửa. Cuộc sống luôn trong cảnh nơm nớp lo sợ. Ở quê nhà, bà Nay H’Lúi vừa chăm sóc con nhỏ, vừa cáng đáng việc đồng áng. Sau khi trở về, vợ chồng bà tiếp tục canh tác trên diện tích đất sẵn có. Nhờ tập trung sản xuất, năng suất ngày càng cải thiện. Năm trước, gia đình thu hoạch được 22 tấn bắp, vụ mùa vừa qua tiếp tục thu được 5 tấn. Chúng tôi cùng trung úy Y Tư Mlô đi bộ trên con đường đất nhỏ dẫn vào nhà anh Nay Long (buôn Dang, xã Ea H’leo). Trong câu chuyện với anh Y Tư chúng tôi được biết anh Nay Long từng bán cả xe cày, vay mượn tiền đưa vợ con sang Thái Lan với giấc mơ đổi đời, nhưng rồi phải tìm đường trở về sau những tháng ngày sống chui lủi nơi đất khách. Đón chúng tôi trong căn nhà của mình, anh Nay Long kể lại câu chuyện cũ bằng sự day dứt, nhưng cũng đầy quyết tâm làm lại cuộc đời. Quê ở Gia Lai, anh Nay Long lấy vợ và về buôn Dang sinh sống. Qua mạng xã hội, anh liên lạc với một số người đang ở nước ngoài. Nghe giới thiệu về mức thu nhập cao và cơ hội sang Mỹ định cư, anh bán xe cày, vay mượn tiền để đưa cả gia đình sang Thái Lan. Cuối năm 2024, anh đi trước, sau đó vợ và ba người con sang theo. Khi mới sang, gia đình bị giữ trong phòng suốt 2-3 tuần. Sau đó, anh cùng một số người tìm cách đi làm thuê, công việc rất bấp bênh. Có lúc được trả tiền, có lúc bị quỵt công. Trong một lần đi làm, anh bị cảnh sát bắt giữ và giam hai tuần. Sau một năm chờ đợi không có cơ hội sang Mỹ, vợ con đau ốm, anh Nay Long quyết định tìm cách trở về. Đầu năm 2026, gia đình anh cùng 3 gia đình khác đăng ký hồi hương. Trở về buôn Dang, gia đình anh được chính quyền, công an, các đoàn thể hỗ trợ, từng bước ổn định cuộc sống. Với 2ha đất trồng bắp, mì, hai vợ chồng anh tập trung sản xuất. Đầu năm 2024, gia đình anh được hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa. Gần đây, chính quyền và lực lượng công an còn hỗ trợ thủ tục để con trai lớn đi làm việc ở Nhật Bản theo chương trình xuất khẩu lao động. KHÔNG ĐỂ NGƯỜI TRỞ VỀ ĐƠN ĐỘC Trong câu chuyện với cán bộ cơ sở xã Ea H’leo, được biết, sau thời gian kiên trì tuyên truyền, vận động, đến nay đã có 36 công dân vượt biên trở về địa phương. Hiện vẫn còn 28 công dân của xã đang sinh sống không hợp pháp ở nước ngoài, chủ yếu ở hai buôn Săm và buôn Dang. Theo ông Y Thắng Êban, Chủ tịch UBND xã Ea H’leo, tình trạng một số người dân tộc thiểu số vượt biên trái phép diễn ra trên địa bàn từ năm 2001. Thời gian đầu, có khá nhiều người bị lôi kéo. Trước tình hình đó, chính quyền địa phương đã phối hợp với lực lượng chức năng, các ban, ngành, đoàn thể và gia đình tổ chức tuyên truyền,vận động, tìm cách đưa bà con trở về. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất sau hồi hương là nhiều gia đình không còn tài sản để bắt đầu lại. Bởi vậy, công tác hỗ trợ không dừng lại ở việc đón công dân về nước mà phải giải quyết những vấn đề thiết thực nhất trong cuộc sống của họ. Địa phương đã rà soát từng trường hợp, lồng ghép các chương trình, chính sách của Nhà nước, vận động cộng đồng, các tổ chức, cá nhân hỗ trợ đất ở, nhà ở để người hồi hương có nơi an cư. Cùng với đó là hỗ trợ cây trồng, vật nuôi, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, kết nối nguồn vốn để phát triển sản xuất. Sau khi trở về quê hương và từng bước ổn định cuộc sống, ông Rchăm Y Pin, anh Nay Long đã cùng lực lượng công an tham gia các buổi họp buôn, để tuyên truyền bà con trong buôn. Họ kể lại câu chuyện của bản thân, những lời hứa hẹn về cuộc sống giàu sang nơi đất khách và cả những tháng ngày khó khăn, nỗi nhớ gia đình khi phải sống xa quê. N.T Ông Rchăm Y Rôk trao đổi động viên gia đình bà Nay H’Lúi Anh Nay Long chăm sóc vườn cà phê Tôi cũ ng theo anh em gọ i phó ng viên ban Văn nghệ Phan Cung Việ t mỗ i mộ t từ gọ n, thân là Phan. Và Phan hay réo tôi là Vũ . Ý Phan ưu á i khuyế n khích việ c viế t phó ng sự phả i theo gương Vũ Trọ ng Phụ ng. Nghề nà y phả i gọ i ông nà y tiên sư. Mấ y cuố n thơ truyệ n cho tôi, Phan đề gọ n lỏ n Tặ ng Vũ .

RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==