11 7-8/11/2026 www.tienphong.vn Bà Nguyễn Thị Phương Dung chia sẻ với phóng viên Tiền Phong về mô hình bảo tồn đang được thúc đẩy tại nhiều địa phương trên cả nước. TRAO QUYỀN CHO ĐỊA PHƯƠNG PanNature đề cập vấn đề bảo tồn thiên nhiên do cộng đồng địa phương dẫn dắt. Thưa bà, mô hình này được hiểu như thế nào? Bảo tồn thiên nhiên do địa phương dẫn dắt không phải là một công thức kỹ thuật hoàn toàn mới, mà bản chất là sự định hình lại cấu trúc quyền lực trong công tác bảo tồn. Trong nhiều thập kỷ qua, mô hình bảo tồn truyền thống thường tiếp cận theo hướng từ trên xuống hoặc dừng lại ở việc huy động người dân tham gia vào các dự án đã được đóng khung sẵn từ bên ngoài, nơi quyền xác định ưu tiên và kiểm soát tài chính thuộc về các chủ thể nằm cách xa thực địa. Cách tiếp cận do địa phương dẫn dắt dịch chuyển trọng tâm sang những câu hỏi căn bản về quyền lực thực chất: Ai là người xác định vấn đề và đặt ra ưu tiên? Tri thức của ai được xem là có giá trị? Ai kiểm soát nguồn lực, có quyền điều chỉnh giải pháp khi hoàn cảnh thay đổi, và quan trọng nhất là ai tiếp tục chịu trách nhiệm với thiên nhiên sau khi một chương trình hỗ trợ kết thúc? Điều này đồng nghĩa với việc địa phương được thực sự chủ động xác định ưu tiên, kiểm soát nguồn lực, ứng dụng tri thức tại chỗ và chịu trách nhiệm dài hạn. Tuy nhiên, trao quyền cho địa phương không có nghĩa là loại bỏ vai trò của Nhà nước hay các tổ chức quốc tế. Đây là một cơ chế quản trị đa cấp cân bằng, nơi quyền hạn và nguồn lực được phân bổ ở đúng cấp độ phù hợp nhất. Tại Việt Nam đã có những mô hình, câu chuyện thành công nào về việc bảo tồn thiên nhiên do cộng đồng địa phương dẫn dắt? Theo bà, đâu là những yếu tố tạo nên thành công? Ở Việt Nam, mô hình này đã có nền tảng thể chế quan trọng thông qua cơ chế đồng quản lý nguồn lợi thủy sản theo Luật Thủy sản năm 2017 hay việc giao rừng cho cộng đồng dân cư theo Luật Lâm nghiệp năm 2017. Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030 cũng khẳng định bảo tồn là trách nhiệm của toàn xã hội và yêu cầu huy động sự tham gia thực chất của người dân. Thông qua Chương trình Tài trợ bảo tồn cấp cơ sở do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) quản lý, Quỹ Bảo tồn Động thực vật hoang dã Việt Nam tài trợ, nhiều sáng kiến bảo tồn dựa vào cộng đồng đang ghi nhận những kết quả tích cực, khẳng định vai trò trung tâm của người dân địa phương trong bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Tại Quảng Trị, HTX Bảo tồn Voọc gáy trắng triển khai dự án “Bảo tồn Voọc gáy trắng dựa vào cộng đồng”. Trong 6 tháng, hai tổ tuần tra cộng đồng đã thực hiện 24 chuyến tuần tra trên hơn 500ha rừng tự nhiên, phát hiện và kịp thời ngăn chặn một vụ đốt rẫy cùng 14 bẫy săn bắt động vật trong khu vực sinh sống của khoảng 150 cá thể Voọc gáy trắng. Những kết quả này cho thấy vai trò chủ động của cộng đồng trong bảo vệ sinh cảnh và loài linh trưởng nguy cấp đặc hữu của Việt Nam. Tại Nghệ An, HTX Nông nghiệp Tổng hợp Quỳnh Bảng thực hiện dự án “Nâng cao năng lực bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn và các loài chim hoang dã, di cư dựa vào cộng đồng tại xã Quỳnh Anh”. Với sự tham gia của người dân và sự phối hợp của các cơ quan chức năng, cộng đồng đã trồng 15.000 cây phục hồi rừng ngập mặn, đồng thời tham gia tuần tra, tháo gỡ hàng nghìn mét lưới bẫy chim, thu giữ nhiều dụng cụ săn bắt và thả các cá thể chim khỏe mạnh trở về tự nhiên. Các hoạt động đã góp phần phục hồi sinh cảnh và tăng cường bảo vệ các loài chim hoang dã, chim di cư tại địa phương. Tại Tuyên Quang, dự án “Xây dựng mô hình khu bảo tồn do cộng đồng quản lý và phục hồi quần thể tự nhiên một số loài dược liệu nguy cấp, quý, hiếm tại xã Tùng Vài” đã thúc đẩy sự tham gia tích cực của cộng đồng trong công tác bảo tồn tài nguyên bản địa. Người dân được tập huấn, tham gia tuần tra, giám sát và trực tiếp triển khai mô hình phục hồi loài Tam thất hoang, đồng thời xác định các khu vực ưu tiên bảo vệ các loài dược liệu quý hiếm. Tại Khánh Hòa, Tổ tuần tra cộng đồng Ninh Hòa - Vạn Ninh đã triển khai các đợt tuần tra, giám sát đa dạng sinh học tại khu vực rừng phòng hộ Ninh Hòa - Vạn Ninh. Các thành viên cộng đồng đã ghi nhận nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm, đồng thời phát hiện và tháo gỡ các loại bẫy trái phép, góp phần giảm thiểu các mối đe dọa đối với động vật hoang dã và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng. Điều này chứng minh rằng khi được tin tưởng, trao quyền và tiếp cận nguồn vốn trực tiếp, người dân địa phương hoàn toàn có đủ năng lực làm chủ và duy trì kết quả bảo tồn lâu dài. NHÂN RỘNG MÔ HÌNH Theo bà, để nhân rộng mô hình này, cần có những giải pháp nào? Để nhân rộng mô hình bảo tồn do địa phương dẫn dắt một cách thực chất và bền vững tại Việt Nam, chúng ta cần triển khai một khung giải pháp đồng bộ, tác động trực tiếp vào cấu trúc quản trị và cơ chế vận hành hiện hành. Trước hết, điều cốt lõi là phải đưa các chủ thể địa phương tham gia ngay từ bước đầu tiên của chu trình dự án. Việc tham vấn hình thức khi dự án đã đóng khung mục tiêu và ngân sách cần được thay thế bằng quy trình đồng thiết kế, nơi địa phương được trực tiếp xác định ưu tiên, phân tích nguyên nhân và cùng xây dựng giải pháp. Song song đó, phương thức tài trợ cần có sự chuyển dịch căn bản từ việc chi trả cho các hoạt động bề nổi ngắn hạn sang đầu tư dài hạn cho năng lực tổ chức toàn diện, bao gồm nhân lực chuyên môn, hệ thống quản trị tài chính, dữ liệu và năng lực lãnh đạo. Sự chuyển dịch này đòi hỏi cải tổ dòng tiền bảo tồn nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn trực tiếp cho các thiết chế nội địa, đi kèm với các cơ chế kiểm soát minh bạch và trách nhiệm giải trình nghiêm ngặt. Ở khía cạnh thể chế và tri thức, chúng ta cần xây dựng các cơ chế quản trị tri thức nhằm kết nối dữ liệu đa dạng sinh học và lưu giữ dữ liệu qua các giai đoạn, giúp các dự án mới không phải bắt đầu lại từ đầu. Về hệ thống đánh giá, ngành bảo tồn cần bổ sung các chỉ số đo lường chất lượng quản trị như mức độ tự chủ, quyền tham gia thực chất và tính bền vững của các thiết chế tại chỗ bên cạnh các tiêu chí diện tích hay độ che phủ truyền thống. Cuối cùng, việc nhân rộng đòi hỏi phải kiến tạo một hệ sinh thái bảo tồn đa cấp, nơi Nhà nước giữ vai trò định hướng vĩ mô, các tổ chức quốc tế đóng vai trò đòn bẩy kết nối nguồn lực và khoa học, còn các tổ chức xã hội địa phương cùng cộng đồng giữ vai trò hạt nhân vận hành trực tiếp tại địa bàn. Cảm ơn bà. NHỮNG NĂM QUA, HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN CÓ SỰ CHUYỂN DỊCH DẦN THEO HƯỚNG CỘNG ĐỒNG BẢN ĐỊA THAM GIA DẪN DẮT. MÔ HÌNH NÀY KHÔNG CHỈ GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ MÀ CÒN HƯỚNG TỚI TÍNH BỀN VỮNG, THEO BÀ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG, PHÓ GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN (PANNATURE). Thành công từ mô hình cộng đồng bản địa dẫn dắt bảo tồn TUỆ MINH (thực hiện) Người dân tại Quảng Bình tham gia hoạt động tuần tra của Dự án “Bảo tồn Voọc gáy trắng dựa vào cộng đồng” ẢNH: PANNATURE Bà Nguyễn Thị Phương Dung, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên ẢNH: NVCC Tại Hội nghị sơ kết công tác phòng, chống thiên tai 10 tháng đầu năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, đang thử nghiệm dịch vụ vệ tinh tầm thấp Starlink và giải pháp nhắn tin cảnh báo thiên tai Call Broadcast, giúp mở thêm khả năng kết nối tại những khu vực khó khăn, nơi hạ tầng viễn thông mặt đất chưa đáp ứng được yêu cầu. Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long đề nghị, trong thời điểm xảy ra thiên tai, các doanh nghiệp viễn thông cần tăng cường phối hợp, chia sẻ hạ tầng, thiết bị và nhân lực, không để sự khác biệt về mạng lưới hay thiếu cơ chế hỗ trợ làm chậm quá trình khôi phục kết nối. Trong đó, cần tính đến việc điều phối thiết bị dự phòng, bảo đảm nguồn điện, duy trì đường truyền và sử dụng các giải pháp thay thế khi hạ tầng mặt đất bị hư hỏng. Ông Long yêu cầu thay đổi cách đánh giá tình trạng thông tin liên lạc khi có thiên tai. Thay vì chỉ thống kê bao nhiêu trạm BTS bị hư hỏng hoặc mất kết nối, các đơn vị phải xác định rõ xã, thôn nào còn sóng, khu vực nào đang mất liên lạc để có phương án ứng cứu kịp thời. Ông cũng yêu cầu đẩy mạnh các giải pháp cảnh báo như Call Broadcast, đồng thời chủ động chuẩn bị phương tiện thông tin dự phòng. Những giải pháp này cần được tính toán để có thể vận hành trong điều kiện mất điện, gián đoạn mạng lưới, bảo đảm người dân không bị bỏ lại phía sau trong những tình huống nguy cấp. TUỆ MINH Thử nghiệm dịch vụ Internet vệ tinh trong phòng chống thiên tai
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==