NHÓM NGÀNH NÀO ĐANG ĐÀO TẠO THỪA? Theo kết quả nghiên cứu của nhóm PGS.TS Trần Quang Tuyến, phân tích cơ cấu việc làm cho thấy, tỉ lệ cử nhân làm việc trái ngành nhưng đúng trình độ đại học (ĐH) chiếm 17%. Có 207 người lao động rơi vào tình trạng vừa làm trái chuyên môn, vừa dưới trình độ đào tạo hoặc đúng ngành nhưng dưới trình độ. Nhìn chung, toàn thị trường chỉ ghi nhận gần 62% người tốt nghiệp tìm được vị trí đáp ứng trọn vẹn cả hai tiêu chí bằng cấp và chuyên môn; tức cứ 3 người tốt nghiệp ĐH có 1 người làm việc không cần trình độ ĐH hoặc chuyên môn. Mức độ lệch hướng nghề nghiệp ghi nhận sự phân hóa giữa các nhóm ngành đào tạo. Khối nông nghiệp và thú y chịu ảnh hưởng nặng nhất khi chỉ chưa đầy 26% cử nhân có việc làm phù hợp hoàn toàn, trong khi có tới gần 40% làm trái ngành và 29% lệch cả ngành lẫn trình độ. Tương tự, nhóm nghệ thuật và nhân văn chỉ có gần 34% người làm đúng vị trí, nhường chỗ cho trên 40% làm trái ngành. Lĩnh vực khoa học, toán học và máy tính cũng chỉ đạt tỉ lệ phù hợp hoàn toàn ở mức 37%. Ngược lại, nhóm ngành giáo dục - sư phạm và y tế - sức khỏe duy trì mức độ gắn kết việc làm chặt chẽ nhất, với tỉ lệ đáp ứng đúng ngành và đúng trình độ lần lượt đạt trên 84% và gần 79%. Về mặt kinh tế, nghiên cứu chỉ ra rằng hệ quả của việc làm trái ngành và làm việc dưới trình độ có sự khác biệt rõ rệt đối với thu nhập của người lao động. Cụ thể, việc làm trái ngành nhưng đúng trình độ ĐH nhìn chung không tạo ra sự chênh lệch lớn về thu nhập so với nhóm làm đúng chuyên môn. Điều này chứng minh kiến thức nền tảng và năng lực thích ứng cá nhân vẫn giúp người tốt nghiệp đảm nhận tốt công việc tương đương ở các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, nhóm lao động làm việc lệch cả ngành lẫn trình độ chịu mức giảm lương trung bình tới gần 15%. Thiệt thòi nặng nề nhất thuộc về nhóm làm việc dưới trình độ đào tạo, với mức tiền lương giảm sâu tới trên 23%. ĐÀO TẠO GẮN VỚI NHU CẦU THỊ TRƯỜNG Nhóm nghiên cứu đặt ra yêu cầu nhìn nhận chất lượng và hiệu quả của giáo dục ĐH không chỉ thông qua số lượng người tốt nghiệp hoặc tỉ lệ có việc làm, mà còn thông qua mức độ phù hợp giữa đào tạo và công việc thực tế. PGS Trần Quang Tuyến cho rằng, các trường ĐH cần tăng cường kết nối với thị trường lao động, thường xuyên cập nhật thông tin về nhu cầu tuyển dụng, yêu cầu kỹ năng và triển vọng nghề nghiệp của từng ngành đào tạo. Chính sách phát triển thị trường lao động cần chú trọng tạo thêm những việc làm đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, đặc biệt tại khu vực nông thôn và những địa phương còn hạn chế về cơ hội việc làm cho người tốt nghiệp đại học. Việc mở rộng giáo dục ĐH chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với sự phát triển tương ứng của nhu cầu sử dụng lao động có trình độ cao trong nền kinh tế. Cuối cùng, cần phân biệt rõ giữa làm việc dưới trình độ và làm việc trái ngành trong hoạch định chính sách giáo dục và việc làm. Nếu làm việc dưới trình độ thường đi kèm với mức thiệt thòi đáng kể về tiền lương, thì làm việc trái ngành có thể phản ánh cả sự thiếu phù hợp lẫn khả năng linh hoạt, thích ứng của người lao động. Vì vậy, ông Tuyến cho rằng, chính sách giáo dục ĐH không chỉ hướng đến mục tiêu mọi sinh viên đều làm đúng ngành được đào tạo, mà cần chú trọng trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng và năng lực để giúp họ có thể chuyển đổi công việc khác và vận dụng hiệu quả các kiến thức và kĩ năng được đào tạo trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp. “Giá trị của giáo dục ĐH không chỉ nằm ở tấm bằng hay việc người tốt nghiệp có tìm được việc làm hay không, mà còn ở khả năng chuyển hóa kiến thức và kĩ năng được đào tạo thành những công việc có chất lượng và thu nhập tương xứng”, ông Tuyến nhận định. TS Văn Hữu Quang Nhật, Viện trưởng Viện Phát triển khoa học ứng dụng, Trường ĐH Thái Bình Dương, cho rằng, tiêu chí để xác định liệu một vị trí việc làm có thực sự đòi hỏi trình độ ĐH hay không là điều rất khó đưa ra nhận định chính xác. Bản chất của năng lực được cấu thành từ cả kiến thức và kĩ năng, và năng lực này chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đặt vào từng bối cảnh cũng như tình huống công việc cụ thể. Ngay cả đối với những vị trí lao động phổ thông, một người đã qua đào tạo ĐH vẫn sở hữu nền tảng năng lực giúp họ chủ động hơn trong việc xử lí tình huống, quản trị rủi ro và đối mặt với các biến cố phát sinh. Bên cạnh đó, dù trình độ ĐH trước mắt có thể chưa liên quan trực tiếp đến công việc hiện tại, nhưng đó lại là cơ sở quan trọng tạo tiền đề cho người lao động có cơ hội được quy hoạch, điều chuyển và thăng tiến trong tương lai. Những hiện tượng thừa, thiếu hay lệch pha cục bộ về địa lí và từng giai đoạn kinh tế sẽ tự được cân bằng bởi quy luật thị trường. Nhìn nhận dưới góc độ phương pháp luận, các số liệu nêu trên cần được theo dõi trên một khoảng thời gian dài kì, đồng thời phải kết hợp đánh giá trong mối tương quan với các yếu tố kinh tế vĩ mô, chính sách nhân lực và đặc biệt là độ trễ chính sách. NGHIÊM HUÊ 6 n Thứ Ba n Ngày 3/11/2026 KHOA GIÁO Gần 40% cử nhân làm việc không phù hợp chuyên môn Nghiên cứu của PGS.TS Trần Quang Tuyến, TS Vũ Mạnh Hưởng (Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng các cộng sự dựa trên dữ liệu Điều tra Lao động - Việc làm giai đoạn 2018-2022 với gần 180.000 cử nhân đã phản ánh một thực tế đáng chú ý trên thị trường lao động: Hơn 38% người tốt nghiệp đại học đang làm công việc không phù hợp về trình độ, ngành học hoặc cả hai khía cạnh. Ông Tánh từng giảng dạy môn Giáo dục công dân và Ngữ văn tại Trường THPT bán công Nguyễn Du. Tháng 12/2006, hiệu trưởng nhà trường ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với ông sau một sự việc xảy ra trong giờ ra chơi. Khi đang đi trong sân trường, ông Tánh bị một học sinh gọi tên và chửi tục, nên ông tát vào mặt học sinh khiến em này chảy máu mũi. Cho rằng hình thức kỷ luật buộc thôi việc không tương xứng với hành vi vi phạm và trái quy định pháp luật, ông Tánh nhiều lần khiếu nại, sau đó khởi kiện nhà trường ra tòa. Từ năm 2008 đến năm 2021, vụ tranh chấp lao động trải qua nhiều cấp xét xử, với tổng cộng 14 bản án, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vụ việc được xem xét qua các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm tại các cấp tòa án ở Đà Lạt, Lâm Đồng và TAND Tối cao. Theo quyết định giám đốc thẩm, Trường THCS Nguyễn Du phải tiếp nhận ông Tánh trở lại làm giáo viên, thanh toán tiền lương và khôi phục các chế độ bảo hiểm. Theo phán quyết của tòa, nhà trường phải trả ông Tánh hơn 614 triệu đồng tiền lương, tính từ thời điểm bị buộc thôi việc (tháng 12/2006) đến tháng 1/2020. Ngoài ra, trường phải tiếp tục thanh toán tiền lương và khôi phục các chế độ bảo hiểm từ năm 2020 đến khi ông được tiếp nhận trở lại làm việc. Tính từ tháng 1/2020 đến tháng 10/2026, khoản tiền lương phát sinh là hơn 554 triệu đồng. Tổng số tiền nhà trường phải thanh toán cho ông Tánh gần 1,2 tỷ đồng. Sáng 2/11, Ban giám hiệu Trường THCS Nguyễn Du và ông Tánh thống nhất phương án chi trả số tiền này thành 3 đợt, mỗi đợt 400 triệu đồng, dự kiến vào tháng 12/2026, tháng 12/2027 và tháng 3/2028. Để thực hiện nghĩa vụ chi trả cho ông Tánh, nhà trường phải cắt giảm các khoản chi cho giáo viên trong 3 năm, từ năm 2026 đến năm 2028. THÁI LÂM Trở lại bục giảng sau gần 20 năm bị buộc thôi việc Ngày 2/11, ông Lê Cao Tánh, 54 tuổi, nguyên giáo viên Trường THPT bán công Nguyễn Du (nay là Trường THCS Nguyễn Du, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), cho biết đã nhận thông báo tiếp nhận trở lại làm việc tại trường từ 1/11. Sư phạm là một trong những nhóm ngành có tỉ lệ tốt nghiệp làm đúng việc (đúng ngành và đúng trình độ) cao nhất. Trong ảnh: Sinh viên Trường ĐH Sư phạm Hà Nội trong lễ tốt nghiệp ẢNH: NGHIÊM HUÊ Ông Lê Cao Tánh từng giảng dạy môn Giáo dục công dân và Ngữ văn tại Trường THPT bán công Nguyễn Du “Giá trị của giáo dục ĐH không chỉ nằm ở tấm bằng hay việc người tốt nghiệp có tìm được việc làm hay không, mà còn ở khả năng chuyển hóa kiến thức và kĩ năng được đào tạo thành những công việc có chất lượng và thu nhập tương xứng”. PGS.TS TRẦN QUANG TUYẾN - Đại học Quốc gia Hà Nội
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==