SÁNG KIẾN TỪ NỖI LO TRÊN ĐỒNG RUỘNG Với người nông dân trồng lúa, sâu bệnh luôn là một trong những nỗi lo thường trực. Khi cây lúa xuất hiện dấu hiệu nhiễm bệnh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học thường được xem là giải pháp nhanh chóng. Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào hóa chất trong thời gian dài có thể gây ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng. Từ thực tế ấy, chàng trai trẻ Lê Ngọc Trí (SN 1995) nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học để phòng trừ bệnh hại cây lúa, hướng đến phương thức canh tác an toàn và bền vững hơn. Sáng kiến “Chế phẩm sinh học từ Chitosan kết hợp tổ hợp vi sinh vật có ích nhằm phòng trừ bệnh hại cây lúa theo hướng bền vững” của Trí ra đời từ sự trăn trở đó. Giải pháp kết hợp Chitosan với các chủng vi sinh vật có lợi, tạo ra chế phẩm sinh học giúp hỗ trợ phòng trừ bệnh hại, thúc đẩy cây lúa sinh trưởng và cải thiện chất lượng đất. Theo anh Trí, Chitosan có khả năng hỗ trợ kháng khuẩn, tạo lớp màng bảo vệ cây trồng. Các vi sinh vật có lợi giúp hạn chế tác nhân gây bệnh, hỗ trợ cây lúa phát triển và cải thiện môi trường đất. Bằng cách ứng dụng cơ chế tác động kép, sử dụng dẫn xuất Chitosan từ phế phẩm thủy sản để kích kháng chủ động (đóng vai trò như vắc-xin thực vật) kết hợp với tổ hợp vi sinh vật đối kháng bản địa để ức chế nguồn bệnh nấm, khuẩn trong đất. Chế phẩm giúp bảo vệ cây lúa hiệu quả trước các dịch bệnh như đạo ôn, khô vằn, bạc lá. Đồng thời, công trình giúp cải tạo kết cấu đất hữu cơ và cắt giảm từ 30-50% chi phí đầu vào cho người nông dân. Điểm đặc biệt của sáng kiến nằm ở tính bản địa và tuần hoàn. “Thay vì dùng thuốc bảo vệ thực vật độc hại, tôi sử dụng các chủng vi sinh vật có lợi ngay tại địa phương kết hợp với Chitosan. Giải pháp này không chỉ giúp bà con trị bệnh cho lúa hiệu quả, bảo vệ sức khỏe người nông dân mà còn góp phần trả lại sự trong lành cho đất”, anh Trí chia sẻ. Điểm mạnh nổi bật là chi phí chế phẩm thấp, công nghệ áp dụng đơn giản, không đòi hỏi thiết bị hiện đại, khả năng sản xuất và ứng dụng đại trà cao. Điều này rất phù hợp với mô hình nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững hiện đại mà quốc gia đang theo đuổi. Anh Trí cho biết, khó khăn không chỉ nằm ở nghiên cứu, thử nghiệm mà còn ở việc thay đổi thói quen canh tác của người dân. Khi lúa bị sâu bệnh, nhiều người muốn xử lý nhanh để tránh thiệt hại. Trong khi đó, phương pháp sinh học đòi hỏi sự kiên trì, chú trọng phòng bệnh hơn chữa bệnh. “Thuyết phục bà con thay đổi thói quen, chấp nhận lợi ích trước mắt ít hơn để hướng đến sự an toàn, bền vững lâu dài không hề dễ, phải kiên trì theo phương châm “mưa dầm thấm lâu”, anh chia sẻ. Nhờ sự kiên trì, bền bỉ đó, chế phẩm được bà con nông dân ở Quảng Trị tin tưởng dùng cho đồng ruộng. Kết quả triển khai thực tiễn cho thấy, chế phẩm giúp giảm bệnh hại, tăng năng suất lúa 7-10%, giảm hơn 70% lượng thuốc hóa học và cải thiện chất lượng đất, góp phần giảm chi phí sản xuất. NÔNG DÂN 4.0 Anh Trí cho rằng, nghiên cứu chỉ thực sự có ý nghĩa khi giải quyết được vấn đề của đời sống. Bởi vậy, bên cạnh việc tìm tòi giải pháp kỹ thuật, anh dành sự quan tâm cho một bài toán khó không kém: làm thế nào để người dân tin tưởng, tiếp nhận và thay đổi thói quen canh tác. Từ thực tế đó, anh gắn hoạt động nghiên cứu với vai trò cán bộ Đoàn, Hội tại cơ sở. Anh xây dựng mô hình “Khuyến nông trẻ - Nông dân 4.0”, phát huy vai trò của thanh niên trong chia sẻ kiến thức và hỗ trợ người dân đổi mới cách làm nông nghiệp. Thông qua tổ tự quản “Khuyến nông trẻ”, đoàn viên thường xuyên cập nhật lịch thời vụ, kỹ thuật chăm sóc cây trồng và tình hình dịch bệnh từ cơ quan chuyên môn để phổ biến đến bà con. Các nhóm Zalo, Facebook tại địa phương cũng được tận dụng để cảnh báo thời tiết, dịch bệnh và hướng dẫn nông dân ứng phó kịp thời, hạn chế rủi ro trong sản xuất. Không dừng ở việc truyền tải thông tin, mô hình còn hướng đến hỗ trợ nông dân tiếp cận quy trình canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc định hướng hữu cơ phù hợp với điều kiện thực tế. Qua đó, thanh niên có thêm cơ hội tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, thay vì chỉ đảm nhận vai trò tuyên truyền, vận động. Cùng với “Khuyến nông trẻ - Nông dân 4.0”, anh Trí thúc đẩy mô hình “Chuyển giao công nghệ và kỹ thuật mới cho đoàn viên”. Hướng triển khai là tập hợp những đoàn viên có tay nghề, kỹ sư trẻ và người làm kinh tế giỏi để hỗ trợ kỹ thuật cho nhau. Cùng đó, tổ chức các chuyến tham quan cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ mới, đồng thời kết nối với cơ quan khuyến nông và doanh nghiệp để đưa kiến thức đến gần hơn với người trẻ khởi nghiệp. Anh Trí cho biết, cách làm này hướng đến giải quyết một trong những trở ngại của thanh niên khi bắt đầu sản xuất, kinh doanh: thiếu kinh nghiệm thực tế và khó tiếp cận nguồn tư vấn kỹ thuật đáng tin cậy. “Khi được hỗ trợ từ những người đi trước hoặc có chuyên môn, đoàn viên có thêm cơ sở lựa chọn phương án phù hợp, hạn chế những thử nghiệm thiếu chuẩn bị và tăng khả năng liên kết trong sản xuất”, anh nói. n 31/10-1/11/2026 www.tienphong.vn KHOA GIÁO 11 TỪ NGHIÊN CỨU CHẾ PHẨM SINH HỌC PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI CÂY LÚA ĐẾN CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN NÔNG GẮN VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ, ANH LÊ NGỌC TRÍ, PHÓ BÍ THƯ ĐOÀN XÃ, CHỦ TỊCH HỘI LHTN VIỆT NAM XÃ NAM HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ, NỖ LỰC TỪNG NGÀY ĐƯA TRI THỨC KHOA HỌC ĐẾN GẦN HƠN VỚI ĐỒNG RUỘNG VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN. Sáng kiến “Chế phẩm sinh học từ Chitosan kết hợp tổ hợp vi sinh vật có ích nhằm phòng trừ bệnh hại cây lúa theo hướng bền vững” được T.Ư Đoàn trao Giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” toàn quốc 2025; giải Ba Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Quảng Trị lần thứ X. Năm 2026, anh Lê Ngọc Trí được T.Ư Đoàn trao giải thưởng Nguyễn Chí Thanh cho cán bộ Hội xuất sắc. Trước đó, anh từng hai lần tham gia Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu. CHỮA BỆNH CHO CÂY LÚA TỪ CHẾ PHẨM SINH HỌC LƯU TRINH Anh Lê Ngọc Trí (bìa trái) tập huấn đoàn viên, thanh niên phân loại, xử lý rác hữu cơ thành phân bón Anh Lê Ngọc Trí (trái) hướng dẫn người dân sử dụng chế phẩm sinh học xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ vi sinh ngay tại hộ gia đình THÚC ĐẨY MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH TẠI LAI CHÂU Tổ chức Plan International phối hợp Liên minh Hợp tác xã tỉnh Lai Châu vừa tổ chức Lễ khởi động Dự án “Thúc đẩy chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu tại Lai Châu” (Dự án I-CSA). Dự án được triển khai từ tháng 7/2026 đến tháng 10/2029 tại 3 xã Khổng Lào, Dào San và Sìn Hồ, nhằm thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời nâng cao cơ hội kinh tế cho phụ nữ và thanh niên dân tộc thiểu số. Dự án hướng tới hỗ trợ nông dân, đặc biệt là phụ nữ và thanh niên dân tộc thiểu số, tăng cường áp dụng các phương thức sản xuất và sau thu hoạch bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Dự án cũng thúc đẩy trao quyền kinh tế và sự tham gia của phụ nữ, thanh niên dân tộc thiểu số thông qua phát triển các mô hình hợp tác, doanh nghiệp bao trùm và tăng cường liên kết thị trường. Bên cạnh đó, nâng cao năng lực dự báo, thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua tích hợp thông tin cảnh báo sớm và xây dựng kế hoạch thích ứng vào hệ thống nông nghiệp địa phương. NGUYỄN HOÀI LÀO CAI KIỂM KÊ, QUAN TRẮC ĐA DẠNG SINH HỌC TOÀN TỈNH UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Kế hoạch số 505/KHUBND ngày 26/10/2026 triển khai Chương trình điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030. Theo kế hoạch, đến năm 2030, Lào Cai phấn đấu hoàn thành điều tra, kiểm kê và quan trắc đa dạng sinh học tại tất cả khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh. Phạm vi thực hiện gồm Vườn quốc gia Hoàng Liên, Vườn quốc gia Bát Xát, Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn, Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu và Khu bảo tồn loài, sinh cảnh Mù Cang Chải. Trong giai đoạn 2027-2028, tỉnh dự kiến đầu tư các thiết bị phục vụ điều tra gồm máy định vị GPS chuyên dùng, thiết bị bay không người lái, camera bẫy ảnh hồng ngoại và máy đo thông số môi trường. Giai đoạn 2028-2030, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, cập nhật và vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học cấp tỉnh, bảo đảm tích hợp, kết nối với cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia. Các kết quả điều tra, quan trắc sẽ được chuẩn hóa và cập nhật định kỳ hằng năm. Đây là yêu cầu quan trọng để dữ liệu phản ánh được những thay đổi của hệ sinh thái qua thời gian, phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách bảo tồn. TUỆ MINH
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==