73 tienphong.vn NHAN SẮC GỬI LẠI CHIẾN TRƯỜNG Đầu tháng 4/2026, chúng tôi tìm đến con hẻm nhỏ số 12, đường Nguyễn Truyền Thanh (phường Bình Thủy, TP Cần Thơ) vào buổi sáng nắng khá gay gắt. Ngồi trước hiên nhà cấp bốn là một cụ bà với khuôn mặt chảy xệ, những khối thịt đắp đổi lên nhau khiến đôi mắt đỏ hoe chẳng thể khép kín. Đó là bà Nguyễn Thị Huờn, người ta gọi bà là “Bà Tư Huờn napalm” quê ở xã Trí Phải, tỉnh Cà Mau. Ở tuổi 83, sức khỏe đã yếu nhưng ký ức về ngày định mệnh 23 tháng Chạp năm Quý Mão (1963) vẫn hiện rõ như một thước phim chậm trong đầu bà. Ngồi trò chuyện, bà Tư Huờn nhớ lại, cách nay 67 năm (năm 1959), khi đó bà tròn 16 tuổi. Ngày ấy, bà Tư Hườn là đóa hoa rừng mặn mòi của miệt U Minh. Với đôi chân thoăn thoắt và lửa cách mạng nhiệt huyết, cô gái trẻ tham gia làm liên lạc, dẫn đường cho cán bộ kháng chiến. Những cánh rừng ngập mặn đầy muỗi mòng, những xóm làng “xôi đậu” nhung nhúc lính tráng không làm cô sợ hãi. Đôi chân nhỏ nhắn ấy của cô gái trẻ đã băng qua biết bao cánh rừng ngập mặn để đưa thư, dẫn đường cho cán bộ. Khi cả nước đang chuẩn bị đưa ông Táo về trời (23 Tết năm 1963), cô giao liên Tư Huờn cùng đồng đội đi mua nhu yếu phẩm chuẩn bị Tết cho thương binh tại đơn vị quân y. Giữa lúc ấy, bầu trời xé toạc bởi tiếng rít kinh hoàng của máy bay Mỹ. Những quả bom napalm, thứ vũ khí kinh tởm có thể thiêu cháy mọi thứ dội xuống. Lửa napalm không cháy rồi tắt, nó bám chặt lấy da thịt như nhựa sống của quỷ dữ. Đồng đội hy sinh ngay tại chỗ, chỉ còn mình bà Tư Huờn may mắn sống sót, nhưng ngọn lửa đã thiêu rụi gương mặt xinh đẹp, khiến da thịt chảy xệ, biến dạng hoàn toàn. Suốt một năm điều trị trong rừng sâu, thuốc men thiếu thốn, bà chỉ biết cắn răng chịu đựng những cơn đau xé thịt. Bà kể, lúc ấy không biết mình trông thế nào, cho đến một ngày vô tình nhặt được mảnh gương vỡ. “Tôi buông tay, mảnh gương rơi xuống, vỡ nát như chính cuộc đời tôi lúc đó. Tôi không dám tin người trong gương là mình”, bà Tư Huờn nhớ lại. Nhưng rồi, tình đồng đội và ngọn lửa cách mạng đã níu bà lại. Bà tiếp tục công tác, học dược tá rồi dược sĩ, dùng đôi tay còn loang lổ sẹo để chăm sóc những thương binh khác cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. VẾT THƯƠNG LÒNG SÂU HƠN VẾT SẸO BOM Hòa bình lập lại, những tưởng cuộc đời bà sẽ sang trang. Năm 1986, bà Tư Huờn về hưu với quân hàm Thượng úy, thương tật trên 60%. Chính quyền địa phương lúc bấy giờ se duyên cho bà với một người đàn ông ngoài 40 tuổi. Một đám cưới linh đình được tổ chức. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, người đàn bà dị dạng ấy dám mặc áo dài, cài hoa cưới, mơ về một mái ấm giản đơn. Thế nhưng, hạnh phúc của bà ngắn ngủi khi bà mang thai đến tháng thứ 9, chỉ còn 10 ngày nữa là vượt cạn nhưng người chồng ấy đã lặng lẽ ra đi không một lời từ biệt. Bà Tư Huờn hụt hẫng giữa dòng đời trong lúc bụng mang dạ chửa, khuôn mặt “ma chê quỷ hờn”, trong tay chỉ có mấy đồng lương thương binh còm cõi. Nỗi đau chồng chất nỗi đau, bà gượng dậy nuôi con trong cảnh đơn chiếc, mang theo vết thương lòng còn sâu hơn cả vết sẹo napalm trên mặt. “Đã sai lầm thì cho người ta làm lại, níu kéo chi”. Câu nói nhân hậu đến đau lòng của bà Tư Huờn về người chồng bội bạc khiến chúng tôi lặng người. Bà một mình sinh con, đặt tên con theo họ cha như một cách giữ gìn gốc gác cho đứa trẻ, dẫu người cha ấy đã ruồng bỏ mẹ con bà vào lúc khốn cùng nhất. Những ngày tháng ấy, bà Tư sống như một cái bóng. Bà sợ ra đường, sợ ánh mắt kỳ thị của người đời, sợ tiếng khóc của chính con mình khi nhìn thấy mặt mẹ. Nỗi đau của “người đàn bà napalm” lúc này không còn là những cơn nóng rát trên da thịt, mà là sự cô độc bủa vây giữa nhân gian rộng lớn. “CẠN ĐÌA MỚI BIẾT LÓC TRÊ” Giữa lúc tưởng như cánh cửa hạnh phúc đã khép lại vĩnh viễn trước mặt bà, ông Phan Văn Vui xuất hiện vào năm 1989. Khi ấy, ông mới 27 tuổi, là một thanh niên khỏe mạnh, điển trai, còn bà đã 46 tuổi với gương mặt dị dạng. Ông Vui cũng là một người đàn ông lỡ dở, đang cảnh “gà trống nuôi con” sau khi người vợ trước bỏ đi. Ông Vui thường sang làm mướn, lên liếp trồng vườn cho bà Tư Huờn. Ban đầu chỉ là sự cảm thông của những người láng giềng cùng khổ. Ông giúp bà việc nặng, bà chăm sóc con gái ông lúc ốm đau. Nhưng rồi, ông Vui nhận ra phía sau khuôn mặt chảy xệ kia là một tâm hồn thuần khiết, một trái tim đầy bao dung và nghị lực. Ngày ông Vui ngỏ lời: “Cô Tư nè, tui ưng cô, chớ không chọn ai nữa hết”, bà Tư đã giật mình đổ quạu. Bà nghĩ anh trêu chọc mình, một sự trêu chọc độc địa nhắm vào nỗi đau lớn nhất của người phụ nữ. Làm sao một thanh niên mới biết đi lúc bà bị thương, lại có thể yêu một người đàn bà hơn mình gần 20 tuổi với ngoại hình dị dạng? “Người ta nói tui khùng, nói tui nhào vô để lợi dụng miếng đất, sổ thương binh của bả, tui mặc kệ. Tui thương bả vì cái nết, cái tình. Hoa đẹp là hoa có gai, còn bả xấu cái vỏ nhưng tốt cái lõi”, ông Vui cười hiền hậu. Đám cưới của họ không pháo hồng, không tiệc tùng linh đình. Họ dắt díu nhau về một mái nhà, nơi có hai đứa trẻ không cùng huyết thống gọi nhau là anh em. Hai chiếc lá rách nát đã tự vá víu cho nhau, dìu nhau qua những ngày tháng bần hàn nhất. Ông Vui đi làm hồ, đẩy xe bán dừa, bà Tư lo cơm nước nội trợ. Có những lúc túng quẫn, họ mua chiếc ghe nhỏ chạy về tận miệt Vĩnh Thuận (An Giang), Thới Bình (Cà Mau) bán hàng bông. Dù đi đâu, làm gì, ông Vui cũng chưa một lần buông tay người vợ đặc biệt của mình. Nhìn bà Tư Huờn ngồi trước nhà, tay cầm hộp sữa, đôi mắt dù không thể khép lại hoàn toàn nhưng ánh lên niềm an ủi. Chiến tranh đã lấy đi của bà nhan sắc, lấy đi một phần cơ thể, nhưng định mệnh đã trả lại cho bà một người đàn ông tuyệt vời. Bà Tư Huờn bảo, cuộc đời bà như một giấc chiêm bao đầy lạnh lẽo ở đoạn đầu nhưng lại ấm áp ở đoạn cuối. Dù vết sẹo napalm vẫn còn đó, dù sức khỏe đã cạn kiệt theo năm tháng lao lực, nhưng bà không còn ghét cuộc đời này nữa. Bởi vì, bà đã tìm thấy một nửa “xương sườn” thực sự của mình, người đã nhìn thấy vẻ đẹp của bà bằng trái tim, chứ không phải bằng đôi mắt. Hiện nay, gia đình bà sống hạnh phúc trong căn nhà nhỏ tương đối khang trang do con trai bà xây cất lại từ 2 năm trước. Ông Vui sau nhiều năm lao động vất vả giờ cũng bị di chứng tai biến, đi lại khó khăn, còn bà Tư Huờn chỉ còn biết nhìn con cháu qua đôi mắt đỏ hoe vì di chứng bom đạn. n “Tôi buông tay, mảnh gương rơi xuống, vỡ nát như chính cuộc đời tôi lúc đó. Tôi không dám tin người trong gương là mình”. BÀ NGUYỄN THỊ HƯỜN Gia đình bà Tư Hườn ấm áp trong bữa cơm ẢNH: Đ. HUỲNH CHÚC TRÍ - Đ. HUỲNH Bà Tư Hườn ngồi trước nhà ẢNH: HÒA HỘI NGƯỜI ĐÀN BÀ NAPALM Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng trên khuôn mặt biến dạng vì bom napalm của bà Tư Huờn, những vết sẹo vẫn như còn rướm máu. Thế nhưng, giữa tận cùng của nỗi đau và sự nghiệt ngã, cuộc đời người nữ giao liên năm ấy như được hồi sinh nhờ một tình yêu kỳ diệu, được ví như câu chuyện cổ tích có thật ngay giữa lòng thành phố Cần Thơ.
RkJQdWJsaXNoZXIy MjM5MTU3OQ==